Cội nguồn Kitô giáo trong chủ nghĩa sùng bái dòng họ Kim tại Triều Tiên

Nguồn:  Yoon Young-kwan, “The Gospel of the Great Leader”, Project Syndicate, 21/07/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy

Nỗ lực mới nhất của Tổng thống Mỹ Donald Trump nhằm tái tiếp cận nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un đã làm căng thẳng quan hệ với Hàn Quốc và củng cố nhận thức ngày càng phổ biến ở châu Á rằng Mỹ là một đồng minh khó đoán. Bằng việc cắt giảm các cuộc tập trận quân sự chung với Hàn Quốc, ông Trump đã chấp nhận nguy cơ gây thêm bất ổn trong một khu vực vốn đã nhiều biến động. Ngay cả Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cũng khó có thể hài lòng, bởi ông Kim gần như chắc chắn sẽ diễn giải động thái của ông Trump như sự hậu thuẫn cho những nỗ lực của Bình Nhưỡng nhằm giành thêm quyền tự chủ trước Trung Quốc.

Cũng như trong cuộc chiến hiện nay với Iran, chính quyền Trump dường như đã hành động mà chưa cân nhắc đầy đủ những hệ quả tiềm tàng. Thậm chí còn hơn cả Liên Xô trước đây, Triều Tiên là hiện thân của câu nói nổi tiếng của Winston Churchill về “một điều bí ẩn được bao bọc trong một ẩn số”. Điều đó có nghĩa là việc đối phó với quốc gia này hiếm khi, nếu không muốn nói là chưa bao giờ, có thể thành công nếu chỉ dựa trên những phán đoán cảm tính.

Thay vào đó, chính quyền Trump nên tận dụng những công trình đang cố gắng soi rọi xã hội vốn được xem là khép kín nhất thế giới. Bằng cách lần theo cách một phiên bản Kitô giáo bị biến đổi đã góp phần định hình triều đại cộng sản của Triều Tiên, cuốn sách mới của Jonathan Cheng, Korean Messiah: Kim Il Sung and the Christian Roots of North Korea’s Personality Cult (Đấng Cứu thế Triều Tiên: Kim Nhật Thành và cội nguồn Kitô giáo của chế độ sùng bái cá nhân ở Triều Tiên), là một đóng góp vô cùng giá trị cho kho tàng nghiên cứu hiện có.

Trọng tâm trong câu chuyện của Cheng là cách người sáng lập Triều Tiên, Kim Nhật Thành, đã tận dụng xuất thân Kitô giáo của mình để xây dựng và củng cố một chế độ sùng bái cá nhân kéo dài suốt tám thập kỷ. Bằng cách vay mượn các cấu trúc, giáo lý và hình tượng tôn giáo, ông đồng thời đặt nền móng cho chế độ cộng sản thế tập hiện do cháu trai mình, Kim Jong-un, lãnh đạo.

Các học giả từ lâu đã nhận thấy rằng hệ tư tưởng chính thức của Triều Tiên — chủ nghĩa Kim Nhật Thành và tư tưởng Juche (tự lực) — trên một số phương diện vận hành giống như một đức tin. Đóng góp của Cheng là đặt chiều kích tôn giáo của chế độ trong một bối cảnh lịch sử và địa chính trị rộng lớn hơn nhiều, lần theo những lực lượng đã định hình Bán đảo Triều Tiên qua nhiều thế kỷ, từ cạnh tranh đế quốc cuối thế kỷ 19 và ách thuộc địa của Nhật Bản cho tới giải phóng năm 1945, sự chia cắt Nam-Bắc, Chiến tranh Lạnh và nạn đói những năm 1990. Xuyên suốt bức tranh lớn ấy là chủ đề cốt lõi của cuốn sách: sự tương tác phức tạp giữa quyền lực chính trị và Kitô giáo đã góp phần như thế nào vào sự hình thành chủ nghĩa sùng bái cá nhân đối với Kim Nhật Thành.

Việc Cheng sử dụng các tài liệu lưu trữ, thư từ, ảnh chụp, nhật ký và tiểu sử — nhiều tài liệu trước đây chưa từng được biết đến hoặc khó tiếp cận — giúp ông tái dựng vai trò của nhiều nhân vật đã định hình lịch sử hiện đại đầy biến động của Triều Tiên. Bằng cách đối chiếu các tài liệu chính thống với một kho nguồn độc lập phong phú, ông đã tạo nên một tường thuật lịch sử vừa nghiêm túc về học thuật vừa sinh động.

Đặc biệt, bức tranh của Cheng về quá trình biến đổi của Bình Nhưỡng đã nắm bắt được nghịch lý của một chế độ tàn bạo đàn áp tôn giáo có tổ chức nhưng lại đòi hỏi sự sùng bái gần như tôn giáo đối với gia đình cầm quyền. Từng được mệnh danh là “Giê-ru-sa-lem của phương Đông”, thủ đô Triều Tiên về sau trở thành tâm điểm của quá trình thần thánh hóa gia tộc họ Kim — chính là kiểu thờ thần tượng mà Kitô giáo tuyệt đối cấm đoán.

Gốc rễ Kitô giáo của Triều Tiên

Cheng lần ngược cội nguồn của phong trào phục hưng Kitô giáo trên Bán đảo Triều Tiên qua Samuel Moffett, một nhà truyền giáo người Mỹ đến từ Madison, bang Indiana, người đặt chân tới Bình Nhưỡng năm 1893 và góp phần truyền bá đức tin này trên khắp bán đảo bất chấp vô vàn trở ngại.

Kitô giáo bắt đầu thu hút đông đảo tín đồ sau khi Triều Tiên bị cuốn vào các cuộc chiến Trung-Nhật và Nga-Nhật, rồi đến năm 1905 mất quyền kiểm soát các vấn đề đối ngoại vào tay Nhật Bản. Giữa thực tế khắc nghiệt của một đất nước đang suy yếu, nhiều người Triều Tiên đặt hy vọng vào một tôn giáo phương Tây vốn xa lạ với họ. Tháng 1/1907, Bình Nhưỡng trở thành trung tâm của một cuộc phục hưng Kitô giáo phi thường, một trong những phong trào lớn nhất trong lịch sử châu Á. Phong trào nhanh chóng lan khắp bán đảo và xa hơn nữa, tới cả các cộng đồng người Triều Tiên ở Mãn Châu.

Đấng Cứu thế Triều Tiên sau đó chuyển trọng tâm sang chính Kim Nhật Thành. Cha ông, Kim Hyong-jik, từng theo học tại một trường truyền giáo và là người có đức tin sâu sắc. Dưới ảnh hưởng của các nhà truyền giáo như Moffett và William Baird, ban đầu ông từng nuôi hy vọng trở thành mục sư. Mẹ của Kim, Kang Pan-sok, thậm chí còn sùng đạo hơn, trong khi cha bà, Kang Don-uk, là một lãnh đạo nhà thờ từng thành lập một trường truyền giáo.

Tuy nhiên, dưới ách cai trị của Nhật Bản, nhiều nhà truyền giáo Kitô tuân thủ chính sách của chính quyền thuộc địa, yêu cầu các nhà thờ đứng ngoài chính trị và chỉ giới hạn hoạt động trong lĩnh vực tôn giáo. Điều này càng khiến họ xa cách với những người theo chủ nghĩa dân tộc Triều Tiên đang đấu tranh cho độc lập.

Phong trào giành quyền tự quyết của Triều Tiên tưởng như nhận được một cú hích lớn ngày 8/1/1918, khi Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson trình bày trước Quốc hội chương trình Mười bốn Điểm nhằm chấm dứt Thế chiến thứ nhất. Điểm thứ năm tuyên bố rằng khi giải quyết các tranh chấp thuộc địa, “lợi ích của các dân tộc liên quan phải có trọng lượng ngang nhau” với lợi ích của các cường quốc đế quốc.

Tuy nhiên, hy vọng của những người theo chủ nghĩa dân tộc cuối cùng tan vỡ, khiến một bộ phận chuyển sang chủ nghĩa xã hội, giống như những người cấp tiến tại Trung Quốc và Việt Nam. Việc đàn áp đẫm máu Phong trào Mùng Một tháng Ba năm 1919 càng làm suy yếu sức hấp dẫn của dòng chủ nghĩa dân tộc Triều Tiên ôn hòa mang màu sắc Kitô giáo.

Kim Nhật Thành trưởng thành giữa cơn lốc tư tưởng cấp tiến ấy. Theo hồi ký của ông, ông thành lập Liên minh Bài Nhật khi mới 14 tuổi, trong thời gian theo học tại Học viện Huacheng. Sử ký chính thức của Triều Tiên về sau tô đậm tổ chức này như tiền thân của Đảng Lao động Triều Tiên.

Một bước ngoặt quan trọng đến sau cái chết của Mục sư Son Jong-do — một nhà cải cách Kitô giáo ôn hòa, bạn của cha Kim và là người có ảnh hưởng lớn đối với Kim thời trẻ — vào tháng 2/1931. Không lâu sau đó, Kim bắt đầu nghiêng hẳn sang chủ nghĩa xã hội, đề cao sức mạnh của quần chúng thay vì phong trào khai sáng tiệm tiến gắn với nhà hoạt động An Chang-ho, cũng như sự phụ thuộc vào hậu thuẫn của Mỹ mà vị tổng thống tương lai của Hàn Quốc, Syngman Rhee, chủ trương.

Đến cuối năm 1940, Kim vượt sông Amur sang Liên Xô, nơi sau đó ông trở thành đại úy trong Lữ đoàn 88 của quân đội Liên Xô, qua đó bước vững chắc vào quỹ đạo chính trị-quân sự của Moscow. Đây cũng là những năm tháng khắc nghiệt đối với Triều Tiên. Cuộc xâm lược Trung Quốc của Nhật Bản đã biến bán đảo thành một căn cứ hậu cần quân sự, trong khi chính quyền thuộc địa tìm cách bóp nghẹt Kitô giáo bằng cách buộc người Triều Tiên tham gia các nghi lễ tại đền thờ Thần đạo.

Sự ra đời của chủ nghĩa sùng bái dòng họ Kim

Phần lớn nửa sau của Korean Messiah tập trung vào giai đoạn Liên Xô chiếm đóng miền bắc Triều Tiên, khi những hạt giống đầu tiên của chế độ sùng bái cá nhân Kim Nhật Thành được gieo xuống. Một trong những nghịch lý lớn của lịch sử là Kim và các thuộc hạ đã đàn áp Kitô giáo một cách có hệ thống, nhưng lại lấp đầy khoảng trống tinh thần đó bằng cách tái sử dụng ngôn ngữ và biểu tượng Kitô giáo để kiến tạo một thứ tôn giáo chính trị xoay quanh chính ông.

Cheng đối chiếu những bước đi nhanh chóng và đầy tính toán của nhà lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin trong giai đoạn cuối Thế chiến thứ hai với thái độ tương đối thờ ơ của Mỹ trước số phận hậu chiến của Triều Tiên. Ngày 8/8/1945 — hai ngày sau khi quả bom nguyên tử được thả xuống Hiroshima — Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản và nhanh chóng đưa quân vào Bán đảo Triều Tiên. Lo ngại trước tốc độ tiến quân của Liên Xô, chính quyền Truman vội vàng đề xuất vĩ tuyến 38 làm ranh giới phân chia tạm thời, và Stalin đã chấp thuận.

Các cường quốc Đồng minh chẳng bao lâu sau còn đi xa hơn, khi đồng ý đặt Triều Tiên dưới chế độ ủy trị quốc tế trong thời hạn lên tới năm năm thay vì trao độc lập ngay lập tức. Ý tưởng này thực ra không mới. Tại Hội nghị Tehran năm 1943, Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt từng đề xuất với Stalin rằng Triều Tiên nên được đặt dưới chế độ ủy trị trong 40 năm, với lập luận rằng người Triều Tiên chưa đủ khả năng tự quản. Khoảng thời gian này về sau được rút ngắn tại Hội nghị Ngoại trưởng ở Moscow, với thỏa thuận được Mỹ, Liên Xô và Anh công bố ngày 27/12/1945.

Người Triều Tiên xem thỏa thuận ấy như một sự phản bội sâu sắc. Tiếp nối Hiệp ước Taft-Katsura năm 1905 và sự thất vọng đối với lời hứa về quyền tự quyết của Wilson năm 1919, chế độ ủy trị càng củng cố cảm giác rằng số phận Triều Tiên vẫn hoàn toàn nằm trong tay các cường quốc bên ngoài. Chiến tranh Triều Tiên sau đó sẽ làm những nỗi lo ấy thêm sâu sắc, khi Hiệp định đình chiến năm 1953 thay thế vĩ tuyến 38 bằng Đường ranh giới quân sự, tiếp tục chia cắt hai miền cho tới ngày nay.

Tại Triều Tiên, tin tức về thỏa thuận ủy trị đã châm ngòi cho cuộc đấu tranh dữ dội giữa các lực lượng ủng hộ và phản đối. Phần lớn các phe phái chính trị ban đầu đều chống lại kế hoạch này, nhưng sau khi Stalin chỉ thị cho phe cộng sản miền bắc ủng hộ, Kim Nhật Thành và các đồng minh nhanh chóng tuân theo.

Đáng chú ý, ban đầu giới chức Liên Xô chiếm đóng miền bắc không có ý định đưa Kim lên lãnh đạo. Lựa chọn đầu tiên của họ là Cho Man-sik, một nhà dân tộc chủ nghĩa Kitô giáo ôn hòa nhận được sự ủng hộ rộng rãi trong dân chúng. Nhưng khi Cho kiên quyết chống lại áp lực từ Liên Xô và phe Kim nhằm buộc ông ủng hộ chế độ ủy trị, Moscow quay lưng với ông và chuyển sang dồn sức hậu thuẫn Kim.

Để củng cố chế độ cộng sản mới, Kim và những người bảo trợ Liên Xô cần kiểm soát khối dân số Kitô giáo có ảnh hưởng lớn ở miền bắc. Một đồng minh quan trọng trong nỗ lực đó là Kang Yang-uk, họ hàng xa bên ngoại của Kim, người từng là giáo viên trường giáo lý của ông.

Kang thành lập Liên đoàn Kitô giáo Choson nhằm đưa các lãnh đạo Kitô giáo thân Kim vào trong khuôn khổ kiểm soát của chế độ, đồng thời trừng phạt những người từ chối tham gia. Cải cách ruộng đất năm 1946 giáng thêm một đòn mạnh vào nhà thờ và các trung tâm đối lập khác bằng cách phá vỡ nền tảng kinh tế của họ. Trong khi đó, các nhà truyền giáo ngày càng bị tố cáo là gián điệp hoặc tay sai của chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Khi đàn áp gia tăng, hơn một triệu tín đồ Kitô giáo chạy xuống miền nam trong giai đoạn 1945-1950, góp phần khiến Kitô giáo trở thành một lực lượng xã hội và chính trị quan trọng ở Hàn Quốc.

Do Kim ban đầu thiếu một nền tảng chính trị vững chắc, giới chức Liên Xô đã tô đậm thành tích thời chiến của ông. Chế độ sùng bái cá nhân bắt đầu phát triển theo quỹ đạo riêng vào tháng 2/1956, khi Nikita Khrushchev lên án sự sùng bái Stalin và phát động quá trình phi Stalin hóa, khiến Kim vô cùng bất an. Tháng 8 cùng năm, các đối thủ chính trị trong nước tìm cách phế truất Kim nhưng thất bại. Bình Nhưỡng sau đó ngày càng xa cách Liên Xô và Trung Quốc, đồng thời tăng cường nỗ lực thần thánh hóa Kim Nhật Thành. Đến đầu thập niên 1960, theo Cheng, mức độ sùng bái dành cho Kim thậm chí đã vượt cả Stalin.

Từ sùng bái đến triều đại

Đức tin vào “Chủ tịch vĩ đại” Kim Nhật Thành chẳng bao lâu đã thấm sâu vào đời sống thường nhật của người Triều Tiên. Người dân phải dành ba đến bốn giờ mỗi ngày để học tập tư tưởng, cùng với các buổi “tự kiểm điểm” định kỳ. Giống như việc người Công giáo xưng tội trước Chúa, người dân Triều Tiên mỗi tuần phải thừa nhận trước đồng nghiệp những thiếu sót của mình trong việc sống theo giáo huấn của Kim. Nghệ thuật và văn học cũng được tái định hình để đặt Kim vào trung tâm của mọi hy vọng, ước mơ và trí tưởng tượng, qua đó đưa sự sùng bái ông vào tận cấu trúc văn hóa của đất nước.

Song song với đó, chế độ tìm cách cô lập đất nước khỏi mọi tư tưởng, hệ tư tưởng và ảnh hưởng văn hóa có khả năng thách thức địa vị tối cao của Kim. Dưới sự lãnh đạo của Kang, Kitô giáo — bị xem là đối thủ tư tưởng trực tiếp của chế độ sùng bái Kim — gần như bị nhổ tận gốc, trong khi các ảnh hưởng bên ngoài ngày càng bị ngăn chặn. Sau chuyến thăm Bình Nhưỡng vào tháng 10/1964, nhà kinh tế học Anh Joan Robinson nhận xét rằng Kim xuất hiện “không phải như một nhà độc tài, mà như một Đấng Cứu thế”.

Sau khi đập tan một âm mưu đảo chính khác vào năm 1967, Kim tiếp tục mở rộng chế độ sùng bái cá nhân bằng cách củng cố quyền lực tuyệt đối. Chế độ sau đó thể chế hóa yêu cầu trung thành tuyệt đối thông qua “Mười nguyên tắc thiết lập hệ tư tưởng duy nhất”, trên thực tế có giá trị cao hơn cả hiến pháp và luật pháp thông thường, và được Cheng so sánh với Mười điều răn trong Kinh thánh. Như Kang Myung-do, một người đào tẩu và là cháu chắt của Kang Yang-uk, từng viết trong cuốn Now I Can Speak (Giờ đây tôi có thể lên tiếng) xuất bản năm 2017, Kim Nhật Thành “đã lợi dụng cội nguồn Kitô giáo của gia đình để thần thánh hóa bản thân”.

Quá trình thần thánh hóa nhanh chóng lan từ Kim sang toàn bộ gia đình ông, qua đó đặt nền móng tư tưởng cho chế độ kế vị thế tập. Cha mẹ Kim trở thành những “thánh nhân của cách mạng”, trong khi mẹ ông được nâng lên thành “Mẹ của Triều Tiên”, với vị thế gần tương đương Đức Mẹ Maria. Qua đó, Triều Tiên đã bác bỏ quan niệm phổ biến trong thế giới xã hội chủ nghĩa — được cả Stalin và Mao Trạch Đông chia sẻ — rằng quyền lực không nên được truyền lại theo huyết thống.

Sự giao thoa giữa Kitô giáo và giáo phái họ Kim tiếp tục định hình Triều Tiên trong những thập niên sau đó. Sau chuyến thăm Trung Quốc năm 1972 của Richard Nixon và Thông cáo chung Nam-Bắc ngày 4/7 cùng năm, Kim Nhật Thành bắt đầu công khai thừa nhận nhiều hơn những ảnh hưởng Kitô giáo trong tuổi thơ mình. Sang thập niên 1980, chế độ giảm bớt mức độ thù địch với Kitô giáo và cho phép một số hoạt động trao đổi với các tổ chức Kitô giáo quốc tế. Việc xuất bản hồi ký của Kim năm 1992 đánh dấu một bước chuyển khác, tiếp theo là những chuyến thăm của các nhân vật Kitô giáo nổi tiếng, trong đó có nhà truyền giáo Mỹ Billy Graham.

Kim Jong-il, người lên nắm quyền sau khi cha qua đời năm 1994, tiếp tục phát triển các chiều kích tôn giáo của sự sùng bái Kim Nhật Thành. Đối mặt với Nạn đói lớn và “Cuộc hành quân gian khổ”, ông biến chủ nghĩa Kim Nhật Thành và tư tưởng Juche thành một hệ thống đức tin được thiết kế để tồn tại qua nhiều thế hệ, duy trì Kim Nhật Thành như một sự hiện diện bất tử ở trung tâm đời sống Triều Tiên.

Cheng cho rằng sự sống còn của chế độ dưới thời Kim Jong-il bắt nguồn từ sự kết hợp giữa khả năng ứng biến chiến thuật và việc tiếp tục thần thánh hóa người cha quá cố. Nhà lãnh đạo hiện nay Kim Jong-un nhận được ít sự chú ý hơn đáng kể trong cuốn sách, với chỉ khoảng tám trang trong tổng số 768 trang dành riêng cho thời kỳ cầm quyền của ông. Tuy vậy, Cheng nhấn mạnh tính liên tục của chế độ sùng bái qua các thế hệ. Giống cha và ông nội, tuyên truyền chính thức mô tả Kim Jong-un là một thiên tài mang “dòng máu thiêng” của Núi Paektu, người tinh thông hầu như mọi lĩnh vực. Ông được mô tả là “đồng nhất với Chủ tịch Kim Nhật Thành về mọi mặt”, qua đó gắn người cháu với nhà sáng lập triều đại bằng cả huyết thống lẫn phẩm chất.

Liệu giáo phái này có thể tồn tại mãi?

Việc Korean Messiah tập trung vào nguồn gốc và sức mạnh phi thường của chế độ sùng bái Kim Nhật Thành có thể khiến người đọc cảm thấy quyền kiểm soát của nó đối với Triều Tiên gần như vĩnh viễn. Tuy nhiên, những lực lượng duy trì các chế độ độc tài không bao giờ bất biến. Điều kiện địa chính trị thay đổi, nền kinh tế và xã hội tiến hóa, và thái độ của công chúng cũng dịch chuyển theo thời gian.

Ở khía cạnh này, cuốn sách dành quá ít sự chú ý cho những lực lượng cấu trúc sâu xa hơn có thể đang làm xói mòn nền móng của triều đại họ Kim. Những độc giả quan tâm đến tương lai Triều Tiên sẽ phải tự hỏi liệu một hệ thống được xây dựng quanh việc thần thánh hóa Kim Nhật Thành có thể tiếp tục bền vững dưới thời Kim Jong-un và bất kỳ người kế vị nào sau ông hay không.

Phong cách cai trị của Kim Jong-un mang lại ít lý do để tin rằng điều đó chắc chắn sẽ xảy ra. Kể từ năm 2023, ông đã từ bỏ mục tiêu thống nhất đất nước, vốn là một trụ cột trong tầm nhìn của Kim Nhật Thành và mục tiêu tối thượng của tư tưởng Juche, để chuyển sang mô tả hai miền Triều Tiên như hai quốc gia thù địch. Qua đó, ông đã làm suy yếu một trong những trụ cột tư tưởng cốt lõi từng nâng đỡ chế độ họ Kim.

Hơn nữa, việc loại bỏ các tư tưởng cạnh tranh và ảnh hưởng từ bên ngoài ngày càng trở nên khó khăn. Sau Nạn đói lớn và “Cuộc hành quân gian khổ” trong những năm 1990, việc từng bước cho phép các cơ chế thị trường bán chính thức đã hồi sinh hoạt động thương mại và giao lưu với thế giới bên ngoài, đồng thời tạo ra những kênh mới để thông tin nước ngoài lọt vào trong nước. Sự phổ biến của văn hóa đại chúng Hàn Quốc trong thế hệ jangmadang — thế hệ trưởng thành cùng các khu chợ tư nhân — đặc biệt đáng chú ý. Như một người đào tẩu gần đây nhận xét, gần như mọi người dân Triều Tiên đều có khả năng từng tiếp xúc ít nhất một lần với phim truyền hình hoặc âm nhạc Hàn Quốc, qua đó nhìn thấy một thực tại hoàn toàn khác với hình ảnh mà chế độ tuyên truyền.

Hệ quả có thể rất sâu rộng. Khi chế độ đánh mất độc quyền thông tin, việc che giấu sự nghèo khó của Triều Tiên hoặc duy trì một hình ảnh được dàn dựng cẩn thận về thế giới bên ngoài trở nên khó khăn hơn nhiều. Những phát biểu của Kim Jong-un cho thấy bản thân ông nhận thức rõ rủi ro này. Tại lễ duyệt binh kỷ niệm 75 năm thành lập Đảng Lao động Triều Tiên tháng 10/2020, ông đã rơi nước mắt và xin lỗi vì “không phải lúc nào cũng sống xứng đáng” với niềm tin to lớn của nhân dân. Một năm sau, khi ca ngợi những thành tựu cách mạng của Đảng, ông thừa nhận rằng “những thay đổi lớn đang diễn ra trong trạng thái ý thức của người dân và môi trường xã hội”.

Trong bối cảnh đó, việc Kim từ bỏ mục tiêu thống nhất và chuyển sang học thuyết “hai quốc gia thù địch” có thể được hiểu như một nỗ lực nhằm hạn chế sức hấp dẫn ngày càng lớn của miền Nam. Khi thông tin bên ngoài ngày càng phơi bày khoảng cách giữa hai miền, viễn cảnh thống nhất hàm chứa một nguy cơ lớn đối với chế độ: người dân Triều Tiên có thể bắt đầu hình dung về một cuộc sống tốt đẹp hơn trong một bán đảo thống nhất và dân chủ.

Tất cả những điều đó cho thấy chế độ sùng bái gia đình họ Kim có thể không còn đủ sức chống chịu trước sức ép từ khó khăn kinh tế, sự thay đổi trong thái độ của công chúng và ảnh hưởng ngày càng lớn của văn hóa Hàn Quốc. Dù thứ tôn giáo chính trị này từng tỏ ra vô cùng hiệu quả trong việc củng cố quyền lực của Kim Nhật Thành và hợp thức hóa chế độ kế vị thế tập, sức chi phối của nó dường như đã suy yếu. Kim Jong-un phản ứng bằng cách siết chặt kiểm soát thông tin và gia cố các bức tường ngăn cách người dân Triều Tiên với thế giới bên ngoài, ngày càng dựa nhiều hơn vào chính trị của nỗi sợ để duy trì sự phục tùng.

Trong khi đó, Kim đã bắt đầu xuất hiện trước công chúng cùng con gái Kim Ju-ae — được cho là 13 tuổi — làm dấy lên suy đoán rằng ông đang chuẩn bị cô làm người kế nhiệm. Nhưng ngay cả nếu cô thực sự lên nắm quyền, vẫn chưa rõ liệu chế độ sùng bái do cụ cố của cô xây dựng có thể đưa triều đại họ Kim bước sang thế hệ thứ tư hay không.

Nghịch lý cuối cùng là bất kể các nhà lãnh đạo Triều Tiên đã khéo léo vay mượn giáo lý và ngôn ngữ Kitô giáo đến mức nào để nâng Kim Nhật Thành lên địa vị gần như thần thánh, toàn bộ hệ thống vẫn dựa trên sự sùng bái một con người phàm trần. Bất chấp mọi nỗ lực biến triều đại họ Kim thành một vương quốc vĩnh cửu, hình ảnh Kinh thánh thích hợp nhất có lẽ vẫn là Tháp Babel.

Bức tranh tinh tế và giàu tính nhân văn của Cheng về Kitô giáo Triều Tiên cũng có sự đồng điệu sâu sắc với cá nhân tôi. Tôi trở thành một tín đồ Kitô giáo nhờ ảnh hưởng của vợ và mẹ vợ, một tín hữu từng chạy trốn khỏi Bình Nhưỡng trong Chiến tranh Triều Tiên. Vì vậy, với tư cách vừa là một tín hữu vừa là một nhà khoa học chính trị, tôi mang trong mình hy vọng rằng một ngày nào đó người dân Triều Tiên sẽ thoát khỏi những đau khổ của mình và giành lại tự do khỏi chế độ đã kéo dài những khổ đau ấy.

Yoon Young-kwan, cựu Bộ trưởng Ngoại giao và Thương mại Hàn Quốc, hiện là Chủ tịch Viện Nghiên cứu Chính sách Asan.

Related posts