Trần Công Nhật
Lịch sử không cần chúng ta bảo vệ một nhân vật. Lịch sử cần chúng ta bảo vệ sự thật.
Thưa ông Phan Trung Can, đọc bài viết của ông về Gia Long – Nguyễn Phúc Ánh, tôi thấy có một vấn đề rất rõ: ông sử dụng nhiều sự kiện lịch sử có thật nhưng lại xâu chuỗi chúng theo một chiều để đi đến một kết luận đã được định sẵn: Tây Sơn là chính nghĩa, Quang Trung là người thống nhất đất nước, còn Nguyễn Phúc Ánh là kẻ phản quốc, bán nước và là nguồn cơn dẫn đến 100 năm Pháp thuộc. Tôi không có ý phủ nhận những sai lầm của Nguyễn Phúc Ánh. Ông từng cầu viện Xiêm, từng tìm kiếm sự hỗ trợ của người Pháp và sau khi chiến thắng Tây Sơn đã tiến hành những cuộc trả thù rất khốc liệt. Những điều đó đều có thể nghiên cứu, phê phán. Nhưng một nhân vật có sai lầm không có nghĩa mọi kết luận tiêu cực về nhân vật ấy đều tự động trở thành sự thật. Muốn tranh luận lịch sử thì phải phân biệt giữa sự kiện, cách giải thích sự kiện và phán xét đạo đức về sự kiện. Bài viết của ông nhiều lần nhập ba thứ đó làm một.
Trước hết, ông viết rằng “Triều Tây Sơn đã chấm dứt thời kỳ nội chiến kéo dài, xây dựng một quốc gia thống nhất”. Đây là luận điểm cần xem xét lại. Tây Sơn đã làm được những việc rất lớn, đặc biệt là chiến thắng quân Xiêm năm 1785 và quân Thanh năm 1789. Công lao quân sự của Nguyễn Huệ không cần phải phủ nhận. Nhưng chiến thắng quân sự không đồng nghĩa với việc đã hoàn thành thống nhất chính trị lâu dài.
Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng đế năm 1778 tại Quy Nhơn, Nguyễn Huệ được phong Bắc Bình Vương, Nguyễn Lữ được phong Đông Định Vương. Sau đó quan hệ giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ chuyển thành xung đột quân sự, hai bên từng mang quân đánh nhau và phải phân định lại phạm vi kiểm soát.
Nguyễn Nhạc vẫn tồn tại như một trung tâm quyền lực riêng tại Quy Nhơn cho đến năm 1793. Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế năm 1788 tại Phú Xuân, lấy niên hiệu Quang Trung. Vì vậy, nếu dùng khái niệm “thống nhất đất nước” theo nghĩa một chính quyền trung ương duy nhất kiểm soát ổn định toàn bộ lãnh thổ thì không thể đơn giản nói Quang Trung đã hoàn thành việc đó. Đến khi Quang Trung qua đời năm 1792, Nguyễn Nhạc vẫn ở Quy Nhơn, chính quyền Quang Trung ở Phú Xuân, còn Nguyễn Phúc Ánh kiểm soát Gia Định. Cũng cần sửa một chi tiết rất rõ trong bài của ông: không có chuyện Nguyễn Huệ “được anh trai nhường ngôi” rồi trở thành vua Quang Trung. Nguyễn Nhạc không nhường ngôi cho Nguyễn Huệ. Đó là một quá trình phân chia và cạnh tranh quyền lực phức tạp trong nội bộ Tây Sơn. Nếu viết lịch sử thì không thể biến một cuộc đấu tranh quyền lực thành một câu chuyện nhường ngôi đơn giản chỉ để làm đẹp hình tượng.
Tiếp đó, ông cho rằng Quang Trung có “những cải cách quan trọng về kinh tế, văn hóa, giáo dục”. Tôi không phủ nhận những chủ trương đáng chú ý của Quang Trung, nhất là những ý tưởng liên quan đến giáo dục, sử dụng chữ Nôm, tổ chức bộ máy và phục hồi kinh tế sau chiến tranh. Nhưng cần phân biệt rất rõ giữa ý tưởng, chủ trương và kết quả thực hiện. Quang Trung trị vì trong thời gian rất ngắn, từ năm 1788 đến năm 1792. Đất nước vừa trải qua chiến tranh, chính quyền Tây Sơn còn nhiều vấn đề nội bộ và phải giải quyết hàng loạt đối thủ chính trị. Vì vậy, nói ông có những chủ trương cải cách là một chuyện; đánh giá đó là những “cải cách quan trọng” đã được thực hiện thành công và tạo ra những chuyển biến lâu dài lại là chuyện khác. Không cần hạ thấp Quang Trung để làm rõ điều này. Một nhà quân sự kiệt xuất vẫn có thể là một nhà cải cách có những giới hạn mà hoàn cảnh và thời gian trị vì không cho phép kiểm nghiệm đầy đủ.
Điểm đáng tranh luận nhất trong bài của ông là chuyện Hiệp ước Versailles năm 1787. Ông viết rằng Nguyễn Ánh cầu cứu người Pháp, thông qua Bá Đa Lộc ký hiệp ước Versailles và đó là “hành động mở đường cho Pháp xâm lược, đô hộ Việt Nam suốt 100 năm”.
Hiệp ước Versailles có thật. Pigneau de Béhaine đã đại diện cho Nguyễn Ánh ký với phía Pháp và nội dung có những điều khoản liên quan đến hỗ trợ quân sự của Pháp cùng quyền lợi của Pháp tại Đà Nẵng và Côn Đảo. Nhưng từ đó kết luận Nguyễn Phúc Ánh là người “mở đường” cho cuộc xâm lược năm 1858 là một bước nhảy nhân quả quá lớn.
Hiệp ước được ký năm 1787, Gia Long mất năm 1820, trong khi Pháp nổ súng tại Đà Nẵng năm 1858. Khoảng cách giữa hai sự kiện là 71 năm, và Gia Long đã qua đời 38 năm trước khi Pháp xâm lược. Trong khoảng thời gian ấy, nước Pháp thay đổi, chủ nghĩa thực dân châu Âu phát triển, cục diện quốc tế thay đổi, chính sách của các vua Nguyễn sau Gia Long cũng thay đổi. Không thể lấy một hiệp ước cuối thế kỷ XVIII để giải thích gần như toàn bộ một quá trình xâm lược thuộc địa diễn ra vào giữa thế kỷ XIX. Có thể nói Versailles là một dấu mốc trong quan hệ giữa Nguyễn Phúc Ánh và Pháp, có thể phê phán việc Nguyễn Phúc Ánh tìm kiếm sự hỗ trợ từ một cường quốc phương Tây, nhưng biến nó thành nguyên nhân trực tiếp của 100 năm Pháp thuộc là không đủ cơ sở.
Tương tự, việc Gia Long sử dụng một số người Pháp cũng là sự thật. Những người như Chaigneau, Vannier, de Forsans và Despiau từng phục vụ Nguyễn Phúc Ánh – Gia Long, có đóng góp nhất định về quân sự, kỹ thuật, đóng tàu, pháo binh và xây dựng thành lũy. Nhưng từ việc sử dụng người Pháp để kết luận Gia Long phụ thuộc Pháp hoặc đặt đất nước dưới sự chi phối của Pháp lại là một bước suy diễn khác. Một vị vua sử dụng chuyên gia nước ngoài không đồng nghĩa với việc ông từ bỏ chủ quyền. Quan hệ giữa triều Nguyễn và Pháp về sau thậm chí ngày càng căng thẳng. Dưới Minh Mạng, triều đình Nguyễn chủ động hạn chế ảnh hưởng phương Tây và không chấp nhận những yêu sách của Pháp. Điều đó cho thấy không thể dựng một đường thẳng đơn giản từ Nguyễn Phúc Ánh năm 1787 đến cuộc xâm lược năm 1858.
Chuyện Nguyễn Phúc Ánh cầu viện Xiêm cũng vậy. Tôi không phủ nhận và cũng không cần phải phủ nhận. Năm 1784, Nguyễn Phúc Ánh cầu viện Xiêm, quân Xiêm tiến vào Gia Định và sau đó bị quân Tây Sơn đánh tan trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút năm 1785. Đây là một quyết định quân sự có hậu quả nghiêm trọng. Quân Xiêm khi tiến vào Gia Định đã gây ra những hành động cướp phá, giết chóc và khiến nhân dân Nam Bộ căm phẫn.
Nguyễn Phúc Ánh phải chịu trách nhiệm chính trị về quyết định cầu viện ấy. Nhưng từ một sự kiện lịch sử có thật để kết luận ông là “kẻ phản quốc”, “bán nước”, “rước giặc về giày mả tổ” thì ông đã chuyển từ phân tích lịch sử sang phán xét đạo đức.
Cuối thế kỷ XVIII là một thế giới chính trị rất khác hiện nay. Các thế lực tranh giành quyền lực sử dụng liên minh, ngoại viện và lực lượng bên ngoài là điều không hiếm. Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh chống Tây Sơn; Nguyễn Phúc Ánh cầu viện Xiêm; phía Tây Sơn cũng từng sử dụng các lực lượng hải tặc người Hoa trong cuộc chiến với Nguyễn Phúc Ánh. Những điều đó không có nghĩa mọi hành động đều đúng, càng không có nghĩa “hai sai lầm tạo thành một cái đúng”. Điều đó chỉ cho thấy cuộc chiến cuối thế kỷ XVIII phức tạp hơn rất nhiều so với mô hình một bên hoàn toàn chính nghĩa và một bên hoàn toàn phản quốc.
Nhưng nếu ông đã dành cả một phần bài viết để lên án sự trả thù của Gia Long đối với Tây Sơn thì tôi cho rằng ở đây càng cần đặt sự việc vào đúng bối cảnh. Tôi không phủ nhận Gia Long đã trả thù rất nặng đối với nhà Tây Sơn. Sau khi giành được quyền lực, ông xử lý những người thuộc dòng họ Tây Sơn, truy xét những người còn liên quan đến chính quyền cũ và đặc biệt có việc quật phá lăng mộ của Nguyễn Huệ cùng một số nhân vật Tây Sơn. Những hành động ấy theo quan niệm đạo đức ngày nay rõ ràng là khốc liệt và có thể bị phê phán. Nhưng nếu chỉ kể một chiều rằng Gia Long là người “vô nhân tính”, “lấy oán thù thay cho hòa giải” mà không nói tại sao mối thù ấy hình thành thì đó cũng là một cách kể lịch sử thiếu bối cảnh.
Chính trong Lễ Hiến phù năm 1806, Gia Long nói rõ rằng ông “vì chín chúa mà trả thù”. Câu nói ấy cho thấy trong nhận thức của Gia Long, cuộc chiến với Tây Sơn không đơn thuần là cuộc tranh giành ngai vàng giữa hai cá nhân. Ông nhìn nó như việc khôi phục cơ nghiệp của các chúa Nguyễn và trả mối thù đối với dòng họ mình. Gia Long lên ngôi sau nhiều thập kỷ chiến tranh, bản thân ông từ nhỏ đã chứng kiến cơ nghiệp của họ Nguyễn sụp đổ, người trong hoàng tộc bị giết, bị truy đuổi và mồ mả tổ tiên bị đào phá. Tây Sơn đã tiến hành những hành động trả thù rất nặng đối với họ Nguyễn và quật phá lăng mộ các chúa Nguyễn. Nếu hôm nay chúng ta nói Gia Long phải chịu trách nhiệm về những cuộc trả thù sau năm 1802 thì cũng phải đặt câu hỏi ngược lại: những gì xảy ra với họ Nguyễn trước đó có được tính vào bối cảnh hay không?
Đặc biệt, cách Gia Long đối xử với họ Trịnh là một chi tiết rất đáng suy nghĩ. Sau khi đánh bại Tây Sơn và kiểm soát Bắc Hà, Gia Long không tiến hành một cuộc thanh trừng toàn bộ họ Trịnh theo kiểu trả thù dòng họ như cách Tây Sơn từng làm với họ Nguyễn. Ông còn cho con cháu họ Trịnh được tồn tại và có sự sắp xếp nhất định trong trật tự chính trị mới. Điều đó cho thấy chính sách của Gia Long đối với các đối thủ không thể giản lược thành một bản chất “khát máu” hay “vô nhân tính” bất biến. Ông có trả thù Tây Sơn, và cuộc trả thù ấy rất khốc liệt, nhưng việc ông đối xử khác nhau với các lực lượng đối địch cho thấy đằng sau đó còn có tính toán chính trị, ký ức về chiến tranh, quan niệm quân chủ và mối quan hệ thù – nghĩa rất phức tạp của thời đại.
Ở đây cũng cần tránh một sai lầm khác: dùng chữ “nhân quả” theo nghĩa đạo đức tuyệt đối. Tôi không cho rằng vì Tây Sơn từng quật mồ mả họ Nguyễn thì mọi hành động trả thù của Gia Long sau này đều mặc nhiên chính đáng. Không thể lấy “người trước làm điều ác” để hợp thức hóa mọi hành động của “người sau”. Nhưng nếu đã phê phán Gia Long vì trả thù thì phải trình bày đầy đủ chuỗi sự kiện đã dẫn đến sự trả thù đó. Nếu chỉ kể đoạn cuối mà bỏ qua đoạn đầu thì đó không còn là lịch sử đầy đủ mà là một bản cáo trạng được lựa chọn dữ kiện.
Cũng cần nhìn nhận một cách công bằng rằng Nguyễn Phúc Ánh không phải người duy nhất sử dụng bạo lực trong cuộc chiến này. Tây Sơn cũng tiến hành những cuộc thanh trừng rất khốc liệt đối với các thế lực đối địch. Nhà Nguyễn Tây Sơn và nhà Nguyễn Gia Long đều là những chính quyền được hình thành trong bối cảnh chiến tranh, và chiến tranh cuối thế kỷ XVIII không phải một cuộc tranh luận nghị trường. Đó là cuộc chiến sống còn giữa những lực lượng mà thất bại có thể đồng nghĩa với mất mạng, mất dòng họ và mất quyền lực. Nếu dùng chuẩn mực hiện đại để phê phán bạo lực của Gia Long thì hãy dùng cùng chuẩn mực đó đối với tất cả các phe tham chiến.
Và cũng chính vì vậy, tôi không đồng ý với cách ông viết rằng Gia Long “là nguồn cơn” của thực dân Pháp. Đây là một cách quy trách nhiệm lịch sử quá dễ dàng. Gia Long có thể bị phê phán vì đã tìm kiếm sự hỗ trợ của Pháp. Nhưng Pháp xâm lược Việt Nam năm 1858 là quyết định của chính quyền Pháp trong một bối cảnh quốc tế và thuộc địa hoàn toàn khác. Trách nhiệm đầu tiên đối với cuộc xâm lược thuộc về chính lực lượng xâm lược. Không thể lấy một hành động ngoại giao – quân sự của Nguyễn Phúc Ánh năm 1787 để chuyển phần lớn trách nhiệm của chủ nghĩa thực dân Pháp sang một vị vua Việt Nam đã chết gần bốn thập kỷ trước đó.
Tôi cũng không cho rằng Gia Long là người “tạo ra toàn bộ lãnh thổ Việt Nam”. Cương vực Việt Nam là kết quả của một quá trình lịch sử kéo dài nhiều thế kỷ, trong đó các chúa Nguyễn có vai trò rất lớn, Tây Sơn cũng kiểm soát nhiều vùng lãnh thổ, còn Gia Long là người cuối cùng đánh bại Tây Sơn và thiết lập một chính quyền duy nhất trên phạm vi rộng từ Bắc chí Nam vào năm 1802. Nói Gia Long không có công trong việc thống nhất đất nước là không đúng. Nhưng nói toàn bộ cương vực là sản phẩm riêng của Gia Long cũng không đúng. Lịch sử không phải công trình của một cá nhân.
Vậy tại sao Gia Long vẫn gây tranh cãi?
Bởi ông là một nhân vật rất phức tạp. Nhìn từ phía Tây Sơn, ông là đối thủ nguy hiểm nhất. Nhìn từ dòng họ Nguyễn Phúc, ông là người khôi phục cơ nghiệp sau nhiều thập kỷ chiến tranh. Nhìn từ tiến trình thống nhất đất nước, ông là người cuối cùng đánh bại Tây Sơn và thiết lập một chính quyền duy nhất trên phạm vi rộng. Nhìn từ những cuộc trả thù sau chiến tranh, ông là một quân chủ có những hành động rất khốc liệt. Nhìn từ quan hệ với phương Tây, ông từng tìm kiếm sự hỗ trợ của Pháp và sử dụng một số người Pháp, nhưng cũng không thiết lập một chính quyền lệ thuộc Pháp. Tất cả những điều đó có thể cùng tồn tại.
Vì vậy, tôi không có nhu cầu biến Gia Long thành một vị vua hoàn hảo. Ông có những sai lầm rất rõ. Nhưng tôi cũng không chấp nhận việc biến ông thành “kẻ phản quốc” chỉ bằng những chữ mang tính kết án như “bán nước”, “rước giặc”, “vết nhơ”, rồi sau đó dùng những hậu quả của chủ nghĩa thực dân Pháp nhiều thập kỷ sau để quay ngược lại kết tội ông. Đó không phải là cách nghiên cứu lịch sử thuyết phục.
Quang Trung không cần bị hạ thấp để Gia Long được nâng lên. Gia Long cũng không cần được phong thánh để chứng minh Tây Sơn có những giới hạn. Một người có thể là thiên tài quân sự mà chưa hoàn thành một sự thống nhất chính trị lâu dài. Một vị vua có thể từng cầu viện ngoại bang nhưng sau đó vẫn trở thành người thống nhất đất nước. Một chính quyền có thể có những thành tựu lớn nhưng cũng có những hành động đáng phê phán.
Điều quan trọng nhất là phải dùng cùng một thước đo cho tất cả.
Nếu Nguyễn Phúc Ánh cầu viện Xiêm thì hãy nói rõ ông đã làm điều đó và hậu quả là gì. Nếu Tây Sơn sử dụng lực lượng bên ngoài thì cũng phải nói. Nếu Gia Long trả thù Tây Sơn thì hãy trình bày đầy đủ. Nếu Tây Sơn từng quật phá lăng mộ các chúa Nguyễn thì cũng không thể bỏ qua. Nếu Gia Long tìm kiếm sự hỗ trợ của người Pháp thì phải nói. Nhưng nếu Pháp xâm lược Việt Nam năm 1858 thì cũng phải đặt trách nhiệm của chính quyền thực dân Pháp vào đúng vị trí của nó.
Lịch sử không cần chúng ta phong thánh cho Gia Long.
Nhưng lịch sử cũng không cần chúng ta dựng một phiên tòa rồi tự mình làm cả công tố viên, nhân chứng và quan tòa.
Nguyễn Phúc Ánh có công và có tội.
Nguyễn Huệ có những chiến công phi thường và cũng có những giới hạn của một chính quyền tồn tại trong hoàn cảnh chiến tranh.
Tây Sơn có những đóng góp lớn cho lịch sử dân tộc nhưng cũng có những mâu thuẫn nội bộ và những hành động chính trị, quân sự cần được nhìn nhận đầy đủ.
Triều Nguyễn có những thành tựu quan trọng trong tổ chức và quản lý đất nước nhưng cũng có những chính sách gây tranh luận sâu sắc.
Đó mới là lịch sử.
Không phải “Gia Long là anh hùng” hay “Gia Long là tội đồ”.
Không phải “Tây Sơn là chính nghĩa” hay “Tây Sơn là phản loạn”.
Mà là: mỗi nhân vật phải được đặt đúng vào hoàn cảnh của họ, mỗi sự kiện phải được kiểm chứng bằng sử liệu, và mỗi kết luận phải được xây dựng từ chứng cứ chứ không phải từ cảm xúc yêu – ghét.
Nếu một người muốn tranh luận về Gia Long, tôi hoàn toàn hoan nghênh.
Nhưng hãy tranh luận bằng sử liệu.
Đừng dùng “lòng dân” như một thứ giấy chứng nhận cho quan điểm cá nhân.
Đừng dùng “nhân quả” để hợp thức hóa mọi hành động của bên mình yêu thích.
Đừng dùng một hiệp ước năm 1787 để giải thích một cuộc xâm lược năm 1858 mà bỏ qua cả một thế kỷ biến động.
Và càng đừng biến lịch sử thành cuộc chiến giữa “người của ta” và “kẻ của họ”.
Bởi nếu đã thật sự yêu lịch sử thì khi sự thật không đẹp, chúng ta vẫn phải chấp nhận nó.
Lịch sử không cần chúng ta bảo vệ một nhân vật. Lịch sử cần chúng ta bảo vệ sự thật.
T.C.N.
Nguồn: FB Trần Công Nhật
