Brian Wu
9-6-2026
Tình cờ sáng nay, khi đọc lại nguyên tác Anh ngữ Ho Chi Minh: A Life của William Duiker, tôi có đọc được một số đoạn văn liên quan đến mối quan hệ giữa Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai. Sau đó, tôi tra cứu lại bản dịch tiếng Việt của ông Nguyễn Thành Nam và nhận thấy có không ít nội dung trong nguyên tác đã không xuất hiện trong bản dịch, từ những câu văn riêng lẻ cho đến cả những đoạn văn dài.

Ngoài ra, một số thuật ngữ và câu văn quan trọng cũng được chuyển ngữ theo cách làm thay đổi đáng kể nội dung hoặc sắc thái của nguyên tác. Vì vậy, tôi xin đăng lại các đoạn nguyên văn tiếng Anh, bản dịch của ông Nguyễn Thành Nam và bản dịch nháp của tôi để những ai quan tâm có thể tự mình đối chiếu và tham khảo.
Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh có vợ hay có những mối quan hệ tình cảm trong cuộc đời cách mạng của ông là chủ đề mà ngày nay đã có rất nhiều tài liệu, bài viết và tranh luận công khai. Những ai quan tâm hoàn toàn có thể tự tìm đọc từ nhiều nguồn khác nhau. Trong bài viết này, tôi không đi sâu vào việc đánh giá hay bình luận về đời tư của ông, mà chỉ giới hạn ở việc đối chiếu giữa nguyên tác và bản dịch để xem nội dung đã được chuyển ngữ chuẩn xác hay sai lầm như thế nào.
Sau khi tôi đăng vài bài phê bình bản dịch Nguyễn Thành Nam, có người nói với tôi rằng bản dịch vốn chỉ là một bản lược dịch, không nên coi là một dịch phẩm học thuật chỉn chu. Cá nhân tôi không hoàn toàn đồng ý với ý kiến này.
Một bản lược dịch, theo tôi hiểu, là bản dịch có chủ đích rút gọn nội dung nhưng vẫn cố gắng bảo tồn trung thực các ý chính và tinh thần của nguyên tác. Trong khi đó, ở đây không chỉ có hiện tượng lược bỏ một lượng lớn nội dung, mà còn có những đoạn văn quan trọng bị loại bỏ hoàn toàn, cùng với một số thuật ngữ hoặc câu văn được dịch theo cách làm thay đổi nội dung và sắc thái mà tác giả muốn truyền tải.
Nói cách khác, nội dung nguyên tác và nội dung bản dịch này hầu như khác nhau rất xa một trời một vực. Như tôi đã đánh giá, nguyên tác được biên soạn như một tác phẩm tiểu sử (autobiography), ngược lại bản dịch là một tác phẩm hagiography nhằm tôn sùng và thần thánh hóa hình ảnh Hồ Chí Minh bằng cách cắt xén và dùng đủ mọi chiêu trò dịch thuật, hơn là giúp ích cho độc giả trong công cuộc nghiên cứu sâu về cuộc đời cách mạng của chủ tịch Hồ Chí Minh.
Một trong những điều đáng ngại nhất là việc nhiều thuật ngữ đã thật sự bị dịch với nghĩa ngữ khác đi trong bản dịch, làm cho nội dung bản dịch hoàn toàn khác xa với nội dung nguyên tác. Tôi lấy ví dụ ngay trong các đoạn văn mà tôi so sánh trong bài này, có câu “Whether the combination of losing his Party leadership role and his wife to Le Hong Phong was “doubly humiliating,” as one observer suggests, is another matter”.
Đối với câu văn trên, thuật ngữ “doubly humiliating” đã được dịch trong bản dịch là “thất bại kép”. Nhưng rõ ràng là, cách dịch này không phản ánh đúng nghĩa ngữ của nguyên tác. Từ “humiliating” ở đây là liên quan đến sự nhục nhã, mất mặt hoặc bị hạ thấp danh dự, chứ không đơn thuần là thất bại tức failure. Vì vậy, cụm từ “doubly humiliating” nên được hiểu gần hơn với nghĩa “sự nhục nhã bị nhân đôi” hoặc “sự sỉ nhục gấp đôi”.

Trong đoạn văn trên, Duiker viết về việc Nguyễn Ái Quốc vừa bị mất vai trò lãnh đạo Đảng và đồng thời vừa mất vợ vào tay Lê Hồng Phong. Đó là lý do Duiker sử dụng từ nhục nhã – humiliating, chứ không phải là thất bại – failure. Có vẻ tại đây, các chuyên gia Tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình dịch thuật và biên tập, đã không thể đối diện với sự việc trần trụi này viết về lãnh đạo của họ, nên họ đã cố tình dịch sai ra thành “thất bại kép” như thế.
Tương tự, việc toàn bộ đoạn văn mô tả cuộc hôn nhân chính thức giữa Nguyễn Thị Minh Khai và Lê Hồng Phong tại Moscow sau Hội nghị VII của Quốc tế Cộng sản, không xuất hiện trong bản dịch cũng là một mất mát đáng kể đối với độc giả. Cá nhân tôi không hiểu tại sao người ta lại cắt xén về vấn đề hôn nhân này? Phải chăng, cho đến ngay người ta vẫn muốn che giấu việc Nguyễn Thị Minh Khai và Lê Hồng Phong chính thức kết hôn với nhau?
Dù thế nào đi chăng nữa, khi đoạn văn này bị loại bỏ, độc giả đồng thời cũng không còn được đọc câu kết luận của Duiker rằng Nguyễn Thị Minh Khai và Lê Hồng Phong sau này đã trở thành hai trong số những liệt sĩ đầu tiên bỏ mình cho cuộc cách mạng Việt Nam. Cắt xén đến như thế này, bỏ luôn cả câu văn về hai nhân vật lịch sử này là hai trong số các liệt sĩ đầu tiên bỏ mình cho cuộc cách mạng Việt Nam có là quá lố và xem thường sự hy sinh vì đất nước của họ không? Tôi rất lấy làm lạ là vị hiệu đính gia Cao Minh, một nhà báo cách mạng, lại đồng ý cho cắt xén như thế.
Một ví dụ khác là câu “Perhaps, as the Soviet writer Yevgeny Kobelev has speculated, she fell in love with the handsome Le Hong Phong on the journey”. Tạm dịch “Có thể, như nhà văn Liên Xô Yevgeny Kobelev suy đoán, Minh Khai đã đem lòng yêu người đàn ông lịch lãm Lê Hồng Phong trong chuyến đi”.
Ở đây, chủ thể của hành động là Nguyễn Thị Minh Khai. Chính bà là người được mô tả là đã đem lòng yêu Lê Hồng Phong. Thế nhưng trong bản dịch, câu này lại được chuyển thành: “Chỉ có khả năng là Phong đã cưa đổ MK trên đường đi dự đại hội. Sao lại đến nông nỗi vậy?” Cách dịch này không chỉ thay đổi chủ thể của hành động, mà còn bổ sung thêm những sắc thái và nội dung hoàn toàn không có trong nguyên tác. Từ một giả thuyết rằng Minh Khai có thể đã nảy sinh tình cảm với Lê Hồng Phong, câu văn trở thành một tình huống trong đó Lê Hồng Phong là người chủ động “cưa đổ” Minh Khai. Đây không còn đơn thuần là khác biệt về lựa chọn từ ngữ, mà là sự thay đổi nội dung của văn bản gốc.
Càng đối chiếu nhiều đoạn văn, tôi càng có thể khẳng định rõ ràng rằng bản dịch này không hề là một bản lược dịch. Với số lượng lớn nội dung bị cắt bỏ, cùng nhiều đoạn văn quan trọng bị lược dịch hoặc loại bỏ hoàn toàn, và với không ít các thuật ngữ và câu văn bị chuyển ngữ theo cách làm thay đổi đáng kể nội dung và sắc thái của nguyên tác, tác phẩm này thật sự đã bị biến đổi một công trình nghiên cứu tiểu sử (autobiography) sử học chỉn chu thành một văn bản mang nhiều đặc điểm của một tác phẩm Hagiography thần thánh hóa nhân vật lịch sử Hồ Chí Minh.
Điều khiến tôi tiếc nuối nhất là Ho Chi Minh: A Life vốn không phải là một tác phẩm Hagiography. Duiker không viết như một người tôn thờ Hồ Chí Minh, nhưng ông cũng không viết như một người chống Hồ Chí Minh. Ông cố gắng viết như một nhà sử học: Ghi nhận các nguồn tư liệu khác nhau, phân biệt giữa dữ kiện, suy đoán và tin đồn, đồng thời trình bày cả những chi tiết thuận lợi lẫn bất lợi đối với nhân vật mà ông nghiên cứu. Chính vì vậy, việc một công trình nghiên cứu sử học như thế lại bị chuyển hóa thành một văn bản mang màu sắc Hagiography trong quá trình dịch thuật là điều mà tôi cảm thấy đặc biệt đáng tiếc.
Tôi đọc nguyên tác tiếng Anh Ho Chi Minh: A Life và thực sự đánh giá cao lối viết của Duiker. Ông viết cẩn trọng, bình tĩnh và có ý thức rất rõ về ranh giới giữa tư liệu và suy đoán. Giá như công trình này được chuyển ngữ một cách đầy đủ và trung thực hơn, thì độc giả Việt Nam đã có cơ hội tiếp cận trực tiếp với những gì Duiker thực sự muốn truyền tải, thay vì phải đọc qua một lớp cắt xén và diễn giải trung gian như hiện nay.
Tôi lấy làm tiếc là tác phẩm lớn như Ho Chi Minh A Life lại để cho ông Nguyễn Thành Nam dịch. Tôi đọc những gì ông dịch, thấy rõ hình ảnh được ví von trong câu ca dao Việt Nam “Gái khôn lấy thằng chồng dại, Như bông hoa lài cắm bãi cứt trâu”.
Tôi biết ông Nam là một doanh nhân nổi tiếng giàu có bên Việt Nam, và là một giảng viên Tư tưởng Hồ Chí Minh trong Vin University. Nhưng thật sự đáng lẽ, ông không nên bước vào công tác dịch thuật, mà lại là dịch một tác phẩm sử học lớn như Ho Chi Minh A Life. Tôi nghĩ ông Nam không đủ trình độ Anh ngữ, Hán ngữ, Pháp ngữ và sử học để có thể nghiên cứu và dịch một tác phẩm sử học quan trọng đến thế. Không hiểu bên Việt Nam người ta đã dựa vào các tiêu chí kinh nghiệm dịch thuật nào, để cho ông đứng ra làm dịch giả cho tác phẩm sử học quan trọng này. Thật không thể tin được.
***
Mời các anh chị đọc phần so sánh dịch thuật dưới đây.
Như thường lệ, đối với những thuật ngữ, câu văn hoặc đoạn văn quan trọng bị dịch sai, dịch thiếu hoặc bị lược bỏ trong bản dịch Nguyễn Thành Nam, tôi sẽ dùng CHỮ HOA để mọi người dễ nhận biết và lưu ý. Đối với những phần còn lại, từ các câu văn bị cắt xén cho đến những thuật ngữ được chuyển ngữ theo cách làm thay đổi ý nghĩa, các anh chị có thể tự đối chiếu giữa nguyên tác, bản dịch Nguyễn Thành Nam và bản dịch nháp của tôi để tham khảo.
Dĩ nhiên, tôi cũng có thể sai trong một số nhận định hoặc cách hiểu. Nếu có điểm nào cần bổ sung hoặc hiệu chỉnh, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của mọi người để chúng ta cùng trao đổi và học hỏi.
_____
PHẦN I
Nguyên tác
While waiting for news of his request for a transfer, Nguyen Ai Quoc remained in Hong Kong. He had been living for months in the apartment on Kowloon peninsula, and had become romantically involved with Nguyen Thi Minh Khai, the alternate at the October 1930 plenary conference.
Like Nguyen Ai Quoc himself, “Duy” (as she was then known within the movement) bridged the gap between past and present. Born in 1910 into an illustrious family in Ha Dong province, near Hanoi, she was the granddaughter of an official in Bac Giang who had received a pho bang degree. Her father, Nguyen Van Binh, had learned to speak French but, after failing the civil service examinations, decided eventually to accept employment as a railroad official at Vinh sometime after 1907.
After enrolling in a girl’s elementary school at Vinh, Minh Khai transferred to a coeducational high school at age fourteen. She was introduced there to revolutionary ideas by Tran Phu, who persuaded her to join the Tan Viet party. High-spirited and physically attractive, after her arriva! in Hong Kong, she soon caught Quoc’s attention.
Not much is known about Minh Khai’s romantic relationship with Nguyen Ai Quoc, or whether they ever participated in a formal wedding ceremony. Quoc’s previous relationship with Tuyet Minh, his Chinese wife in Canton, had apparently corne to an end after his departure from China in April 1927, although there are some indications that she encountered him by chance after he settled in Hong Kong in early 1930. If so, the relationship was not resumed. Lam Duc Thu, Nguyen Ai Quoc’s onetime colleague in the league, told his Sûreté contact that Tuyet Minh considered Quoc too old for her taste and had agreed to marry him only out of financial need. Quoc’s feelings on the matter are unclear, but about a year after his departure from Canton, he wrote her a short note, which Thu passed on to the French: “Although we have been separated for almost a year, our mutual feelings remain, although unspoken. I want to take this occasion to send you these few words of reassurance, and to ask you to give my best wishes to your mother.”
With Nguyen Ai Quoc’s relationship with Tuyet Minh at an end, in the spring of 1931 he struck up a liaison with his young Vietnamese colleague and requested permission from the FEB to get married. In a letter to Quoc in April, Noulens replied that he needed to know the date of the marriage two months in advance. Not long afrer that, however, Minh Khai was arrested by the British police in Hong Kong on suspicion of involvement in subversive activities. Because she claimed to be a Chinese citizen by the name of Tran Thai Lan, she was transferred to Chinese authorities in Canton and incarcerated for several months before being released for lack of evidence. Nguyen Ai Quoc’s reaction to Minh Khai’s arrest and extradition remains a mystery. He referred briefly to the incident in a letter to Noulens in late April or early May, remarking laconically that one of the comrades in charge of communications in his office had been detained by the authorities. He then turned to his own situation and reiterated his request for a transfer. “Just do what you can for me,” he asked, “even though it is a bother.”
Nguồn: Chapter VI Red Nghe Tinh, pp. 198-199
_____
Bản dịch Nguyễn Thành Nam
Trong lúc chờ đợi phân công công tác mới, Q sống trong một căn hộ nhỏ ở bán đảo Cửu long và sa vào quan hệ tình ái với Nguyễn Thị Minh Khai. Cũng như Q, Duy (tên hoạt động của NTMK) là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại. Cô sinh năm 1910 tại một gia đình danh giá ở Hà đông. Ông nội Duy là một quan chức triều đình ở Bắc giang, đã đậu đến Phó bảng. Bố Duy, ông Nguyễn Văn Bình, sau khi thi trượt, chấp nhận làm một nhân viên hỏa xa ở Vinh năm 1907. 14 tuổi, khi vào trường trung học, Duy được Trần Phú truyền bá những tư tưởng cách mạng. Năng nổ và xinh xắn, cô lập tức được Q chú ý ngay khi đến Hong kong.
Không có nhiều tài liệu viết về mối tình Q-K và cũng không rõ họ có cưới nhau chính thức hay không? Cuộc hôn nhân của Q với Tăng Tuyết Minh coi như tan vỡ sau khi Q bỏ trốn năm 1927, mặc dù có một số chứng cớ cho thấy Minh đã gặp Q tại HK đầu những năm 1930. Lâm Đức Thụ đã khai với mật thám Pháp là Minh chê Q già, và đồng ý lấy Q chỉ vì tiền. Trong một bức thư nhờ Thụ chuyển cho Minh, Q viết: “Mặc dù chúng ta xa nhau va không nói ra nhưng tình cảm vẫn nguyên vẹn. Cho anh gửi lời hỏi thăm tới mẹ em”. Mùa xuân năm 1931, Q xin phép văn phòng FEB được cưới NTMK. Noulens trả lời phải báo trước cho ông ta hai tháng trước khi làm đám cưới. Không may, ngay sau đó Khai bị cảnh sát HK bắt vì nghi ngờ hoạt động chống phá. Nhờ tự khai là công dân TQ dưới cái tên Trần Thái Lan, Khai bị di lý về Quảng đông, tống giam vài tháng rồi được thả ra vì thiếu chứng cớ. Khoảng cuối tháng 4, đầu tháng 5, Q viết thư cho Noulens thông báo vắn tắt một đồng chí trong đội liên lạc bị bắt. Sau đó lại nhắc lại đề nghị được chuyển công tác.
___
Bản dịch Brian Wu
Trong lúc chờ tin tức trả lời đề nghị của ông được chuyển công tác [về Thượng Hải], Nguyễn Ái Quốc ở lại Hong Kong. Ông đã sống nhiều tháng trong căn hộ trên bán đảo Cửu Long, và đã nảy sinh quan hệ tình cảm với Nguyễn Thị Minh Khai, ỦY VIÊN DỰ KHUYẾT TẠI HỘI NGHỊ TOÀN THỂ THÁNG MƯỜI NĂM 1930.
Cũng như bản thân Nguyễn Ái Quốc, “Duy” (bí danh mà Minh Khai sử dụng trong phong trào lúc bấy giờ) là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại. Sinh năm 1910 trong một gia đình danh giá ở tỉnh Hà Đông, gần Hà Nội, Minh Khai là cháu gái của một quan chức ở Bắc Giang, người từng đỗ học vị Phó bảng. Cha cô, ông Nguyễn Văn Bình, ĐÃ HỌC NÓI TIẾNG PHÁP, nhưng sau khi thi hỏng các kỳ thi công chức của triều đình, cuối cùng đã nhận làm viên chức hỏa xa tại Vinh vào khoảng sau năm 1907.
SAU KHI HỌC TRƯỜNG NỮ SINH TIỂU HỌC Ở VINH, MINH KHAI CHUYỂN SANG HỌC TẠI MỘT TRƯỜNG TRUNG HỌC NAM NỮ HỌC CHUNG khi mới mười bốn tuổi. Tại đây, cô được Trần Phú truyền bá tư tưởng cách mạng, VÀ ĐƯỢC ÔNG THUYẾT PHỤC GIA NHẬP ĐẢNG TÂN VIỆT. Năng nổ và xinh xắn, sau khi đến Hong Kong, cô nhanh chóng thu hút được sự chú ý của Quốc.
Người ta biết rất ít về mối quan hệ tình cảm giữa Minh Khai và Nguyễn Ái Quốc, cũng như việc liệu giữa hai người có từng diễn ra một lễ cưới chính thức hay chưa. Mối quan hệ trước đó của Quốc với Tuyết Minh, người vợ Trung Hoa của ông tại Quảng Châu, có lẽ đã chấm dứt sau khi ông rời Trung Quốc vào tháng 4 năm 1927, mặc dù có một số dấu hiệu cho thấy cô đã TÌNH CỜ gặp lại ông sau khi ông đến cư trú tại Hong Kong vào đầu năm 1930. NẾU VẬY, MỐI TÌNH GIỮA HAI NGƯỜI CŨNG KHÔNG ĐƯỢC NỐI LẠI. Lâm Đức Thụ, đồng sự một thời của Nguyễn Ái Quốc trong Hội, đã kể lại với viên liên lạc Mật thám Pháp rằng Tuyết Minh không mấy hứng thú với Quốc vì [cô chê] ông quá già, và cô chỉ đồng ý kết hôn với ông vì nhu cầu tài chính.
CẢM NGHĨ CỦA QUỐC VỀ VẤN ĐỀ NÀY [THÌ LẠI] KHÔNG RÕ RÀNG. Nhưng khoảng một năm sau khi rời Quảng Châu, ông viết cho Tuyết Minh một bức thư ngắn, mà Thụ sau đó đưa cho [viên mật thám] Pháp. Quốc viết: “Dù chúng ta đã xa nhau gần một năm, nhưng tình cảm giữa đôi ta vẫn còn, dù không nói nên lời. NHÂN DỊP NÀY, ANH MUỐN GỬI ĐẾN EM ĐÔI LỜI ĐỂ EM AN TÂM, đồng thời nhờ em chuyển giúp những lời chúc tốt đẹp nhất của anh đến với mẹ em.”
Sau khi mối quan hệ giữa Nguyễn Ái Quốc và Tuyết Minh kết thúc, vào mùa xuân năm 1931 ông bắt đầu mối tình [mới] với người cộng sự trẻ tuổi Việt Nam Minh Khai và xin phép Ban Chấp hành Viễn Đông (FEB) cho phép cưới. Trong một bức thư gửi Quốc vào tháng Tư năm 193], Noulens đáp rằng ông cần biết ngày cưới trước hai tháng. Tuy nhiên, không lâu sau đó, Minh Khai bị cảnh sát Anh tại Hong Kong bắt giữ vì bị nghi ngờ tham gia các hoạt động lật đổ [chính quyền]. Vì cô khai là công dân Trung Quốc mang tên Trần Thái Lan, nên cô đã bị chuyển giao cho nhà chức trách Trung Quốc tại Quảng Châu và bị giam giữ trong nhiều tháng trước khi được trả tự do vì thiếu chứng cứ.
THÁI ĐỘ CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TRƯỚC VIỆC MINH KHAI BỊ BẮT VÀ BỊ DẪN ĐỘ VẪN CÒN LÀ MỘT ĐIỀU BÍ ẨN. Ông chỉ nhắc thoáng qua sự việc này trong một bức thư gửi Noulens vào cuối tháng Tư hoặc đầu tháng Năm năm 1931, với lời nhận xét ngắn gọn rằng một trong các đồng chí phụ trách công tác liên lạc trong văn phòng của ông đã bị chính quyền bắt giữ. Sau đó, ông chuyển sang nói về hoàn cảnh của chính mình và lặp lại yêu cầu được điều chuyển công tác [về Thượng Hải] – “Xin [đồng chí] cố gắng giúp tôi trong khả năng có thể,” ông viết, “mặc dù [tôi biết] việc này sẽ làm phiền [đồng chí].”
***
PHẦN II
Nguyên tác
On July 25, 1935, the Seventh Congress of the Communist International opened in the cavernous House of Trade Unions in Moscow ….
To make matters worse, Nguyen Ai Quoc’s intimate relationship with his young colleague Nguyen Thi Minh Khai had apparently come to an end. Letters and confidential reports from the ICP leadership in Macao to the Dalburo in the months leading up to the congress had mentioned that “Quoc’s wife” (la femme de Quoc) would be among the delegates attending the meeting, thus implying that the two had been married prior to their arrest in Hong Kong in 1931.
Perhaps, as the Soviet writer Yevgeny Kobelev has speculated, she fell in love with the handsome Le Hong Phong on the journey. Perhaps, too, Quoc and Minh Khai had drifted apart during their four years of separation after her arrest in Hong Kong in the spring of 1931. Other sources suggest that after his own arrivai in Moscow, Nguyen Ai Quoc had been assigned a “temporary wife” by Comintern headquarters; it was also rumored that he had fathered a daughter by a lady friend in the USSR.
Whatever the truth of the matter, shortly after the adjournment of the Seventh Congress, Le Hong Phong and Nguyen Thi Minh Khai were formally married at a district registrar’s office in Moscow. After the wedding, Phong left for China to report on the meeting to the Party leadership. Minh Khai remained in Moscow for several months, finally departing for France en route to Hong Kong with her colleague Hoang Van Non in the summer of 1936. To delude suspicious French agents, the two posed as a wealthy Chinese couple on a vacation. From Hong Kong she sailed on to Shanghai to join Le Hong Phong, and eventually returned with him to Saigon, where she became a member of the Party’s regional committee for Cochin China. In so doing, she and her husband came a step doser to their future fate as two of the primary martyrs of the Vietnamese revolution.
The relationship between Nguyen Ai Quoc and Nguyen Thi Minh Khai is one of the most puzzling in his life. In later years he never mentioned the issue to his colleagues, and official sources in Hanoi vigorously deny that a marriage between the two had ever taken place. Yet internai documents provide fairly strong evidence to the contrary, although it is possible that the two had never undergone a legal marriage ceremony and simply passed off their relationship to colleagues as man and wife.
Whether the combination of losing his Party leadership role and his wife to Le Hong Phong was “doubly humiliating,” as one observer suggests, is another matter. In his long career Quoc had already demonstrated a predilection for casual affairs so long as they did not interfere with his political objectives, and he may have seen the relationship as a temporary one from the start.
Nguồn: Chapter V Into the Wilderness (p. 223, pp. 224-225)
Bản dịch Nguyễn Thành Nam
Đại hội lần thứ 7 của QTCS được khai mạc ngày 25/7/1935 tại Nhà Công đoàn đầy ngóc ngách …
Tệ hơn nữa, mối tình với Minh Khai cũng đi đến hồi kết. Chẳng mấy chốc sau khi đại hội kết thúc Minh Khai và Phong làm lễ kết hôn tại Matxcova. Trong khi đó, tất cả các tài liệu của lãnh đạo ICP gửi đi từ Makao cho QTCS trước đại hội đều nhấn mạnh là “vợ đ/c Quốc” (Le femme de Quoc) tức Minh Khai (MK) sẽ có mặt trong thành phần đoàn. Chỉ có khả năng là Phong đã cưa đổ MK trên đường đi dự đại hội. Sao lại đến nông nỗi vậy? Có nguồn cho rằng chẳng qua Q và MK đã bị xa nhau quá lâu. Cũng có nguồn cho rằng QTCS đã cấp cho Q “một người vợ tạm thời”. Lại có tin đồn là Q đã có con gái với một cô bạn người Nga.
Quan hệ giữa Q và MK là một trong những vấn đề gây bối rối nhất trong cuộc đời ông. Mặc dù Q không bao giờ nhắc đến chuyện này, các nguồn tin chính thức của đảng đều phủ nhận, tuy nhiên các bằng chứng cho thấy họ đã có quan hệ khá khăng khít. Ít nhất là các đồng chí của họ đều coi họ là vợ chồng. Tuy nhiên nếu nói như một nhà sử học nào đó là Q đã bị “thất bại kép”: mất cả vợ và chức lãnh đạo đảng vào tay LHP thì cũng chưa thực sự ổn lắm. Thực tế cuộc đời Q đã cho thấy ông ưa chuộng những mối quan hệ ngẫu hứng để khỏi ảnh hưởng đến các mục đích chính trị của mình. Có thể ngay từ đầu Q đã coi mối quan hệ với MK là tạm thời.
——
Bản dịch Brian Wu
Ngày 25 tháng 7 năm 1935, Hội Nghị VII của Quốc tế Cộng sản được khai mạc tại tòa Nhà Công đoàn đồ sộ ở Moscow …
Tình hình còn tệ hơn nữa, khi mối quan hệ tình cảm thân mật giữa Nguyễn Ái Quốc và người đồng sự trẻ tuổi Nguyễn Thị Minh Khai dường như đã đi đến hồi kết. Những bức thư và các mật báo từ ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương tại Ma Cao gửi cho Dalburo trong những tháng trước đại hội từng đề cập đến “vợ Quốc” (la femme de Quoc) sẽ là một trong những đại biểu tham dự hội nghị, DO VẬY CÓ HÀM Ý QUỐC VÀ MINH KHAI ĐÃ LẤY NHAU TRƯỚC KHI HỌ BỊ BẮT TẠI HONG KONG VÀO NĂM 1931.
Có thể, như suy đoán của nhà văn Soviet là Yevgeny Kobelev, Minh Khai đã đem lòng yêu người đàn ông lịch lãm Lê Hồng Phong trong chuyến đi. Cũng có thể, Quốc và Minh Khai đã dần xa cách nhau trong bốn năm xa cách kể từ sau khi cô bị bắt tại Hong Kong vào mùa xuân năm 1931. Một số nguồn tin khác lại cho rằng SAU KHI ĐẾN MOSCOW, Nguyễn Ái Quốc đã được trụ sở Quốc tế Cộng sản bố trí cho một “người vợ tạm thời”; ngoài ra còn có tin đồn rằng ông có cô con gái với một người bạn là phụ nữ tại Liên Xô.
DÙ SỰ THẬT LÀ THẾ NÀO ĐI NỮA, KHÔNG LÂU SAU KHI HỘI NGHỊ VII BẾ MẠC, LÊ HỒNG PHONG VÀ NGUYỄN THỊ MINH KHAI ĐÃ CHÍNH THỨC KẾT HÔN TẠI MỘT VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ KẾT HÔN CẤP QUẬN Ở MOSCOW. SAU LỄ CƯỚI, PHONG LÊN ĐƯỜNG SANG TRUNG QUỐC ĐỂ BÁO CÁO KẾT QUẢ HỘI NGHỊ CHO BAN LÃNH ĐẠO ĐẢNG. CÒN MINH KHAI THÌ Ở LẠI MOSCOW THÊM VÀI THÁNG, RỒI VÀO MÙA HÈ NĂM 1936 LÊN ĐƯỜNG SANG PHÁP CÙNG NGƯỜI ĐỒNG SỰ HOÀNG VĂN NỌN TRÊN HÀNH TRÌNH TRỞ VỀ HONG KONG. ĐỂ ĐÁNH LỪA NGHI NGỜ CỦA MẬT THÁM PHÁP, HAI NGƯỜI ĐÓNG GIẢ THÀNH MỘT CẶP VỢ CHỒNG NGƯỜI HOA GIÀU CÓ ĐANG ĐI NGHỈ MÁT. TỪ HONG KONG, CÔ ĐI TÀU THỦY ĐẾN THƯỢNG HẢI ĐỂ GẶP LÊ HỒNG PHONG, RỒI CUỐI CÙNG CÙNG ÔNG TRỞ VỀ SÀI GÒN, NƠI CÔ TRỞ THÀNH ỦY VIÊN CỦA XỨ ỦY NAM KỲ. VỚI VIỆC NÀY, CÔ VÀ CHỒNG MÌNH ĐÃ TIẾN THÊM MỘT BƯỚC ĐẾN SỐ PHẬN TƯƠNG LAI CỦA HỌ VỚI TƯ CÁCH LÀ HAI TRONG SỐ NHỮNG LIỆT SĨ ĐẦU TIÊN CỦA CUỘC CÁCH MẠNG VIỆT NAM.
Mối quan hệ giữa Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai là một trong những mối tình khó lý giải nhất trong cuộc đời ông. Về sau, ông không bao giờ nhắc đến vấn đề này với các đồng sự, còn các nguồn tin chính thức tại Hà Nội thì kiên quyết phủ nhận rằng giữa hai người từng tồn tại một cuộc hôn nhân. Tuy nhiên, các tài liệu nội bộ lại cung cấp những bằng chứng khá vững theo chiều ngược lại, mặc dù cũng có khả năng hai người chưa từng trải qua một nghi thức kết hôn hợp pháp nào mà chỉ giới thiệu mối quan hệ của họ với các đồng sự như vợ chồng.
Liệu việc Nguyễn Ái Quốc vừa mất vai trò lãnh đạo Đảng và [đồng thời] vừa mất vợ vào tay Lê Hồng Phong có phải là một sự “nhục nhã bị nhân đôi”, như một quan sát viên đã nhận xét, hay không lại là một vấn đề khác. [Do vì] trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Quốc đã nhiều lần cho thấy ông ưa chuộng các mối tình tạm bợ (casual affairs) miễn là chúng không ảnh hưởng đến các mục tiêu chính trị của ông; và có lẽ ngay từ đầu ông [chỉ] xem mối tình cùng Minh Khai là nhất thời [tạm bợ mà thôi].
