Chiến lược “bắt tép, bỏ tôm” của IRS

Trần Quốc Sĩ

9-6-2026

Tuần qua có hai ông bà chủ của một hệ thống khoảng 60 tiệm nail hạng sang tại Texas bị truy tố vì đã điều hành một mạng lưới trốn thuế bằng cách trả lương cho nhân viên bằng tiền [mặt] với trị giá 116 triệu đô la. Theo cáo trạng thì họ đã làm việc này từ nhiều năm.

Đã có nhiều bài viết về hành động đúng/ sai của chuyện trốn thuế nên tôi không muốn lặp lại. Trong bài này, tôi sẽ nói về một vấn đề khác. Đó là chính sách “bắt tép, bỏ tôm”, “bắt cá lòng tong, bỏ cá lớn” của Sở Thuế vụ (IRS).

Vụ án cho thấy sở thuế vụ Hoa Kỳ có thể điều tra và truy tố những gian lận kéo dài nhiều năm. Một mạng lưới trả lương bằng tiền mặt trị giá hàng trăm triệu đô la không thể làm ăn lâu như vậy mà không để lại những dấu vết lộ liễu.

Những dấu hiệu báo động có thể là lối sống xa hoa, ăn chơi xa xỉ, những khoản nộp/ rút tiền mặt bất thường, sổ sách kế toán lệch lạc, báo cáo của ngân hàng, hay những nhân viên bất mãn tố giác.

Nhưng chính vụ án này lại đặt ra một câu hỏi khác quan trọng là, nếu IRS bắt được chủ tiệm nail, thì ai sẽ bắt những vụ trốn thuế tinh vi của giới giàu hơn nữa?

Trong vài năm qua, lực lượng IRS đã bị suy giảm đáng kể về nhân sự và ngân sách. Phần lớn khoản ngân sách gần 80 tỷ đô la mà Quốc hội từng cấp cho IRS để tăng cường khả năng kiểm soát các công ty lớn và tầng lớp giàu có nhất nước Mỹ đã bị cắt bỏ. Ngân sách chống gian lận thuế bị thu hẹp. Riêng trong năm 2025, IRS đã mất hơn 27,000 nhân viên.

Phần đông những người IRS sa thải không phải là nhân viên “non”. Trong số đó có hơn 3,600 nhân viên kiểm soát thuế chuyên nghiệp. Đây là gần một phần ba lực lượng kiểm toán của toàn cơ quan. Nặng nề nhất là bộ phận Large Business and International Division (LB&I), nơi phụ trách kiểm tra các tập đoàn lớn, các công ty có cấu trúc tài chính quốc tế và những cá nhân có tài sản hàng trăm triệu hoặc hàng tỷ đô la.

Đây chính là những “con tôm, những con cá lớn”. Và bắt những con này không dễ như việc bắt những “con tép/ cá lòng tong” như chủ tiệm nail.

Trong nhiều năm qua, IRS đã xây dựng những hệ thống phân tích dữ liệu rất tinh vi. Hiện giờ họ đang dùng hệ thống AI (trí tuệ nhân tạo) để đối chiếu hàng tỷ hồ sơ thuế với dữ liệu từ ngân hàng, chủ tiệm, công ty phát hành thẻ tín dụng và nhiều nguồn khác.

Với những người khai thu nhập 50,000 đô la nhưng lại mua bán tài sản trị giá hàng triệu đô la, chạy xe Lamborghini, có máy bay riêng, thì hệ thống có thể phát hiện dễ dàng.

Giả sử một tiệm có hàng ngàn vụ “cà thẻ tín dụng” mỗi tháng, doanh thu hơn một triệu đô la mỗi năm, mở cửa bảy ngày một tuần và luôn đông khách. Thế nhưng, chủ tiệm chỉ khai báo vài nhân viên với tổng số tiền lương rất thấp, hệ thống cũng có thể báo động.

AI không cần biết bên trong chủ tiệm làm gì. Nó chỉ cần biết rằng những con số đó không hợp lý. Từ đó, hồ sơ sẽ được chuyển cho điều tra viên hoặc kiểm toán viên xem xét.

Nhưng với một tỷ phú có hàng chục công ty bình phong (shell companies), quỹ tín thác (trusts), công ty trách nhiệm hữu hạn (LLCs) và tài sản ở nhiều quốc gia thì sự việc sẽ hoàn toàn khác.

Không có AI nào tự động đọc được hàng ngàn trang hồ sơ pháp lý để xác định đâu là cách giảm thuế hợp pháp và đâu là gian lận thuế. Muốn làm việc đó, IRS cần có những người kế toán già dặn, những luật sư thuế và điều tra viên giàu kinh nghiệm.

Và chính những người đó lại là lực lượng bị IRS dưới thời Trump đuổi việc.

Đó là lý do mà số tiền IRS thu được từ các cuộc kiểm tra các doanh nghiệp bị giảm hàng tỷ đô la, trong khi số tiền thu từ các cá nhân đóng thuế bình thường lại tăng lên.

Không phải vì số nhân viên trốn thuế đột nhiên nhiều hơn, mà vì họ dễ bị phát hiện hơn.

Khi thiếu nhân viên có kinh nghiệm, IRS sẽ nhắm vào các mục tiêu dễ giải quyết nhất. AI có thể phát hiện và gửi hàng triệu thư cảnh cáo đến những người nộp thuế cá nhân với chi phí rất thấp, gần như chỉ tốn tiền in và tiền tem.

Nhưng để điều tra các hoạt động chuyển giá (price transfer) xuyên biên giới của một tập đoàn có công ty ở nhiều nước thì nó có thể đòi hỏi hàng ngàn giờ làm việc của một đội ngũ chuyên gia.

Và khi không còn đủ chuyên gia, những cuộc điều tra đó sẽ bị trì hoãn, thu hẹp hoặc bỏ qua.

Cuối cùng, câu chuyện này không chỉ là việc hai chủ tiệm nail ở Texas hay chuyện IRS thiếu người để điều tra các tập đoàn lớn. Câu chuyện mà tôi muốn nói là luật thuế có còn được áp dụng bình đẳng cho mọi người hay không?

Một người thợ nail nhận lương tiền mặt có thể bị điều tra. Một chủ doanh nghiệp nhỏ có thể bị kiểm tra. Một tập đoàn lớn vẫn có thể bị IRS, nếu có đủ nguồn lực, truy xét.

Thế nhưng, trong khi hàng triệu người Mỹ vẫn phải đối đầu với nguy cơ bị kiểm tra, thì Trump, gia đình ông và các doanh nghiệp của họ lại được hưởng một đặc ân là không bị IRS kiểm tra.

Khi người dân bình thường vẫn bị kiểm tra nhưng những người ở đỉnh cao quyền lực lại được miễn trừ thì vấn đề không còn là thuế nữa, mà nó là sự công bằng của luật pháp.

Là sự khác biệt giữa pháp quyền (Rule of Law) và pháp trị (Rule by Law).

Và một khi luật pháp bắt đầu phân biệt giữa người dân thường và người cầm quyền, thì vấn đề không chỉ là ngân sách quốc gia, mà còn là niềm tin vào nền công lý.

Related posts