Chiến lược đánh vào điểm yếu của Trung Quốc

Foreign Affairs

Tác Giả: Ely Ratner Nick Danby

Trần Quốc Sĩ, lược dịch

10-6-2026

Hoa Kỳ phải tạo và sử dụng đòn bẩy đối với Bắc Kinh

Cuộc chiến thương mại Mỹ–Trung năm 2025 chỉ kéo dài chưa đầy một tháng, nhưng sự thiếu hụt chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc đã tồn tại suốt nhiều thập niên.

Ngày 2 tháng Tư, còn được gọi là “Ngày Giải phóng”, Trump đã áp đặt thêm mức thuế quan lên hàng chục quốc gia, trong đó có Trung Quốc, khiến hàng hóa Trung Quốc đột ngột phải chịu mức thuế trung bình gần 75%.

Trong khi phần lớn các quốc gia khác còn lúng túng tìm cách đánh trả, Tập Cận Bình lập tức phản công. Hai ngày sau, Bắc Kinh không chỉ tăng mức thuế tương đương lên hàng nhập khẩu mà còn ngưng xuất khẩu 7 nguyên tố đất hiếm sang Mỹ. Đây là những nguyên liệu thiết yếu cho mọi thứ, từ điện thoại đến chiến đấu cơ. Vì Trung Quốc nắm giữ đến 90% năng lực chế biến đất hiếm trên toàn cầu, điều này gây ra sự gián đoạn nghiêm trọng đối với ngành sản xuất và nền công nghiệp quốc phòng của Hoa Kỳ.

Bị chấn động trước thế cờ của Trung Quốc, chính quyền Trump nhanh chóng hạ giọng. Họ nhận ra rằng các mức thuế cao của Mỹ không thể đối phó với việc Bắc Kinh ngăn chặn xuất khẩu khoáng sản chiến lược. Vài tuần sau, khi gặp Tập Cận Bình tại Nam Hàn, Trump đã phải rút lại mức thuế và nhượng bộ nhiều điều khác. Đổi lại, Bắc Kinh chỉ tạm hoãn việc hạn chế xuất khẩu đất hiếm sang Mỹ trong vòng 1 năm. Tuy nhiên, Tập có thể đổi ý bất cứ lúc nào.

Lưỡi dao đất hiếm kề cổ buộc Trump phải xuống nước trước Trung Quốc. Trong những tháng tiếp theo, Hoa Kỳ phải tỏ ra mềm mỏng với Bắc Kinh, bớt ủng hộ Đài Loan và nới lỏng kiểm soát xuất khẩu công nghệ sang Trung Quốc. Chính quyền Trump phải đặt mục tiêu “ổn định” đối với Trung Quốc trong Chiến lược Quốc phòng năm 2026. Trong khi đó, Trung Quốc không những đã chiến thắng cuộc đối đầu mà còn đặt lại các điều kiện quan hệ song phương theo hướng có lợi cho mình.

Trung Quốc thành công trong việc dồn Mỹ vào thế bí không chỉ vì Hoa Kỳ không bảo đảm được chuỗi cung ứng đất hiếm. Mà vì sự thất bại sâu xa trong chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc.

Như học giả Thomas Schelling từng nhận xét: “Khả năng làm đối phương tổn thương chính là sức mạnh mặc cả.”

Trong khi Bắc Kinh đã dành nhiều năm để xác định những điểm có thể bóp chẹt Washington, thì Hoa Kỳ lại không khai thác những nỗi lo khiến giới lãnh đạo Trung Quốc mất ngủ. Mặc dù Trung Quốc có rất nhiều nỗi lo.

Trong nước, kinh tế Trung Quốc đang gặp khó khăn như nhu cầu nội địa yếu, nợ chồng chất, thị trường bất động sản suy sụp, thất nghiệp cao và lực lượng lao động vừa già đi vừa ít đi.

Quân đội Trung Quốc tham nhũng và chưa có kinh nghiệm chiến trường. Chế độ ngày càng phải tăng cường đàn áp, giám sát mạng và tuyên truyền để duy trì sự kiểm soát xã hội.

Về bên ngoài, Trung Quốc tranh chấp chủ quyền với hầu hết các nước láng giềng, chỉ có Bắc Hàn là đồng minh chính thức duy nhất. Trung Quốc vẫn phải phụ thuộc nhiều vào Hoa Kỳ về năng lượng, vốn liếng tài chánh, nguyên liệu công nghiệp, công nghệ tối tân, thị trường xuất khẩu và cả vào đồng đô la.

Danh sách nhiều điểm yếu trên không báo trước sự sụp đổ sắp xảy ra của Trung Quốc, cũng không chứng minh rằng Trung Quốc tất yếu sẽ suy thoái. Nhưng nó cho thấy Bắc Kinh có những điểm có thể chịu áp lực chiến lược.

Vậy mà Hoa Kỳ không đánh vào những điểm đau của Trung Quốc, thậm chí còn chưa biết phải làm gì. Khi nước bài của Trump bị Tập Cận Bình tố, Mỹ đã phơi bày một lỗ hổng căn bản trong chiến lược đối đầu với Trung Quốc: sự thiếu hụt đòn bẩy cạnh tranh trước đối thủ lớn nhất của mình.

NGHỆ THUẬT GÂY ÁP LỰC

Khai thác các điểm yếu của đối thủ nghe thì có vẻ hung hăng, nhưng mục tiêu không phải là thay đổi chế độ hay đối đầu trên mọi phương diện. Mục tiêu ở đây là bảo vệ và thúc đẩy lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ bằng sự tính toán. Để tránh một chiến lược chắp vá, có thể làm tăng nguy cơ leo thang của cuộc đối đầu, Hoa Kỳ cần đi theo một lộ trình mạch lạc và kỷ luật.

Trước hết, nên tự hỏi liệu việc khai thác một điểm yếu của Trung Quốc có đem lại cho Hoa Kỳ một lợi thế cạnh tranh đáng kể và bền vững hay không. Những điểm yếu đó phải là những vấn đề quan trọng và khó giải quyết của giới lãnh đạo Trung Quốc.

Việc đầu tiên là nhìn vào những vấn đề ưu tiên trong chính sách của Bắc Kinh.

Trong suốt nhiệm kỳ của mình, Tập Cận Bình đã nỗ lực khắc phục những điểm yếu của Trung Quốc. Đó là tham nhũng, sự bất ổn trong nước, mức độ lệ thuộc quá cao vào xuất khẩu lương thực, năng lượng, cũng như công nghệ nước ngoài.

Dù Tập đã đạt được một số thành quả, việc ông tiếp tục đổ vốn tài chính và chính trị vào các mục tiêu này cho thấy Trung Quốc vẫn còn nhiều vấn đề chưa giải quyết.

SÂN NHỎ, HÀNG RÀO CHƯA KÍN

Trước hết, Mỹ phải hạn chế khả năng Trung Quốc đe dọa Hoa Kỳ. Kế đến, Mỹ phải chuẩn bị các bước răn đe trước sự leo thang và gây hấn của Trung Quốc. Và trong khi làm cả hai điều đó, Washington cũng cần tìm cách biến các thế mạnh của Trung Quốc thành điểm yếu, bằng cách phơi bày những hoạt động bí mật và gây bất ổn của Bắc Kinh.

Ngay trước mắt, Hoa Kỳ phải hạn chế khả năng của Trung Quốc tích lũy sức mạnh và năng lực để có thể trực tiếp đe dọa các lợi ích sống còn của Mỹ. Washington đã làm việc này, đáng kể nhất là việc cấm bán các chất bán dẫn tối tân nhất cho Trung Quốc.

Nếu không có các con chip này, Trung Quốc không thể tạo ra các hệ thống trí tuệ nhân tạo, vũ khí hoặc các công cụ tấn công mạng vốn là những phần không thể thiếu trong quá trình hiện đại hóa quân sự.

Hiện tượng các hệ thống AI có khả năng tự động nâng cao năng lực của chính mình càng làm tăng thêm tầm quan trọng của chiến lược này. Cường quốc nào đạt được khả năng đó trước sẽ có lợi thế lâu dài.

Các mắt xích then chốt trong chuỗi sản xuất bán dẫn vẫn nằm ngoài tầm kiểm soát của Bắc Kinh; chúng vẫn nằm trong tay các công ty Mỹ, Nhật, Hòa Lan và Đài Loan. Và mặc dù Trung Quốc hơn một thập niên qua đã tốn hơn 150 tỷ đô la để đưa chuỗi cung ứng bán dẫn này về trong nước, nhưng họ vẫn chưa thành công.

Chiến lược “sân nhỏ, hàng rào cao” của chính quyền Biden đã ngăn chặn Trung Quốc mua chip tối tân, thiết bị chế tạo chip và các công nghệ cao cấp. Đồng thời, Mỹ đã siết chặt các hạn chế đầu tư và yêu cầu phải có giấy phép xuất khẩu đối với một số thiết bị được sản xuất ở nước ngoài nhưng sử dụng công nghệ của Mỹ. Các biện pháp này buộc Trung Quốc phải tốn nhiều tiền, nhiều thời gian và nhiều công sức hơn để tạo ra những thứ mà trước đây họ có thể mua từ nước ngoài. Đây là một chiến lược cạnh tranh hữu hiệu, buộc đối thủ phải làm nhiều hơn để đạt được ít hơn trong những lĩnh vực quan trọng nhất.

Nhưng việc làm ấy vẫn chưa hoàn tất.

Trung Quốc tiếp tục sử dụng các mạng lưới buôn lậu chip, các trung tâm dữ liệu ở nước ngoài và các kỹ thuật AI để sao chép năng lực của chúng.

Các biện pháp mới nên nhắm vào những kênh Trung Quốc dùng để mua chip bị cấm, các công ty bình phong và các công ty con không khai báo.

Đồng thời, Hoa Kỳ không nên gỡ bỏ những lợi thế đã khó khăn lắm mới giành được.

Không cấp phép xuất khẩu chip AI tối tân cho các công ty Trung Quốc. Đừng làm như chính quyền Trump đã làm khi cho phép bán dòng chip H200 của Nvidia. Không có gì vô lý hơn là một mặt ngăn chặn Trung Quốc có thiết bị chế tạo chip, nhưng một mặt lại bán chính các con chip ấy cho Trung Quốc. Quốc hội cần có luật hạn chế xuất khẩu mạnh hơn, để ngăn bất kỳ ai lợi dụng lợi thế dài hạn của Mỹ để đánh đổi lấy những lợi ích nhất thời.

CẤU TRÚC QUYỀN LỰC BA TẦNG: THỐNG TRỊ, LỆ THUỘC VÀ CƯỠNG ÉP

Sự lệ thuộc của Trung Quốc vào các thị trường xuất khẩu nước ngoài cũng mang lại cho Hoa Kỳ một đòn bẩy tương tự. Khu vực sản xuất quá lớn của Trung Quốc, chiếm gần 25% GDP, so với mức trung bình toàn cầu là 15%, đang tiếp sức cho sự lớn mạnh quân sự cũng như các hành vi gây hấn kinh tế của Trung Quốc.

Gần một phần ba toàn bộ hàng hóa trên thế giới được sản xuất tại Trung Quốc. Điều đó không phải là ngẫu nhiên. Bắc Kinh đã gia tăng tốc độ sản xuất bằng trợ cấp nhà nước và đồng tiền bị định giá thấp để củng cố việc làm và tăng trưởng kinh tế, xây dựng các tập đoàn quốc doanh, giảm sự lệ thuộc vào nước ngoài và thống trị các ngành công nghiệp chiến lược. Ngày nay, Trung Quốc lắp đặt hơn một nửa số robot công nghiệp trên thế giới và sản xuất xe điện nhiều hơn tất cả các nước khác cộng lại.

Nếu chiều hướng này tiếp tục, sự kiểm soát của Bắc Kinh đối với các lĩnh vực then chốt sẽ đẩy các nhà sản xuất ở Mỹ và các nước đồng minh ra ngoài lề, làm xói mòn nền công nghiệp quốc phòng của họ và khiến họ phải lệ thuộc vào một đối thủ mạnh về kinh tế cũng như quân sự.

Tại một cuộc họp của G-7 năm 2025, Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen đã cảnh cáo rằng các chính sách công nghiệp của Trung Quốc đang tạo ra một “cấu trúc thống trị, lệ thuộc và cưỡng ép.”

Nhưng thị trường xuất khẩu khổng lồ của Trung Quốc cũng là một điểm yếu. Nền kinh tế Trung Quốc phải phụ thuộc vào thị trường nước ngoài để duy trì việc làm cho người dân.

Bắc Kinh rất ý thức về vấn đề này. Mọi kế hoạch 5 năm mà Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa ra từ năm 2006 đều kêu gọi gia tăng tiêu dùng nội địa.

Tuy nhiên, để thực hiện sự tái cân bằng thật sự như cải cách hệ thống an sinh, phân phối lại thu nhập và bớt giảm quyền lực của nhà nước trong ngành kinh tế, Trung Quốc đã phải đối đầu với các nhóm lợi ích, nỗi lo thất nghiệp và quyết tâm giữ quyền lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Vì thế, Trung Quốc lại càng phải tăng cường phụ thuộc vào xuất khẩu. Và cũng vì vậy, Washington có cơ hội tấn công vào điểm yếu này.

Mỹ nên chống lại làn sóng xuất khẩu của Trung Quốc bằng cách tập hợp các nền kinh tế tiên tiến đang bị Trung Quốc lấn át. Liên minh này sau đó có thể phối hợp các biện pháp thương mại để bảo vệ các ngành công nghiệp của mình, điển hình như thép, công nghệ đóng tàu, pin và drone.

Bên cạnh thuế quan, Hoa Kỳ có thể ký các hiệp định thương mại có tiêu chuẩn cao, trong đó có những điều kiện mà Trung Quốc không thể đáp ứng. Các quốc gia trong liên minh cũng có thể tạo ra một cơ chế chống lách luật bằng cách siết chặt kiểm soát xuất xứ hàng hóa và áp đặt hình phạt đối với hàng hóa được chuyển qua một nước thứ ba. Họ cũng có thể áp đặt cơ chế ngăn chặn việc đầu tư ra nước ngoài, ngăn các công ty hoặc cá nhân tại Hoa Kỳ và các nước đồng minh tài trợ cho Trung Quốc.

RĂN ĐE BẰNG ĐỒNG ĐÔ LA

Kiềm chế những yếu tố nguy hiểm nhất trong sức mạnh của Trung Quốc là mục tiêu trước mắt, nhưng Hoa Kỳ cũng phải xây dựng các đòn bẩy cạnh tranh để phục vụ mục tiêu thứ hai: răn đe.

Vì đồng đô la Mỹ được dùng cho mọi hoạt động kinh tế của Trung Quốc, đây là một trong những điểm yếu quan trọng nhất và dễ bị khai thác nhất. Gần 70% nền thương mại quốc tế của Trung Quốc được định giá bằng đô la hoặc đi qua các định chế tài chính dựa trên đồng đô la. Các nhà nhập khẩu giữ đô la, nhà xuất khẩu lập hóa đơn bằng đô la, các định chế tài chính thanh toán giao dịch bằng đô la, và các ngân hàng trung ương cũng dự trữ đô la. Nếu Trung Quốc muốn giao thương với thế giới, thì phải làm việc trong hệ thống đó.

Mỹ có thể áp đặt những chi phí làm rối loạn thị trường tài chính Trung Quốc và có khả năng gây bất ổn cho nền kinh tế trên phạm vi rộng. Tập Cận Bình đã tìm cách giảm sự lệ thuộc này bằng cách quốc tế hóa đồng nhân dân tệ, nhưng tiến triển rất chậm.

Dĩ nhiên, một hành động nhắm vào các ngân hàng lớn nhất của Trung Quốc sẽ tạo ra những chấn động xa hơn Bắc Kinh. Hoa Kỳ sẽ phải chấp nhận những rủi ro kinh tế thực sự, và tài sản cũng như nhân sự của các công ty Mỹ và đồng minh đang hoạt động tại Trung Quốc có thể trở thành mục tiêu trả đũa.

Điều then chốt là Washington phải tập hợp các đồng minh ủng hộ chiến lược này, để Bắc Kinh phải đối đầu với một mặt trận thống nhất thay vì có cơ hội lợi dụng sự khác biệt giữa các nước.

ĐÒN BẨY DẦU THÔ

Sự lệ thuộc của Trung Quốc vào nhập khẩu năng lượng là một điểm yếu khác; điều này có thể đặt Bắc Kinh trước một rủi ro không thể chấp nhận được.

Trung Quốc nhập khẩu khoảng ba phần tư lượng dầu thô, trong đó khoảng 90 phần trăm bằng đường biển và phải đi qua các điểm nghẽn như Eo biển Malacca cùng các eo biển Lombok và Sunda ở Indonesia.

Mặc dù xe hơi và xe tải tại Trung Quốc ngày càng chạy bằng điện và khí thiên nhiên, Trung Quốc vẫn là nước nhập khẩu dầu thô lớn nhất thế giới, vượt xa các nước khác. Dầu thô phục vụ nền công nghiệp khổng lồ của Trung Quốc, bao gồm sản xuất nhựa và các công nghệ cao, giúp Trung Quốc phát triển.

Bắc Kinh từ lâu đã nhận ra rằng sự gián đoạn nguồn năng lượng hàng hải sẽ gây khó khăn cho hạ tầng sản xuất, vận tải và năng lực quân sự. Dù đã cố gắng trong nhiều thập niên, họ vẫn chưa giải quyết được sự lệ thuộc này.

Chẳng hạn, nguồn dự trữ dầu có thể kéo dài hơn 100 ngày, và Trung Quốc đã chịu đựng được các gián đoạn năng lượng do cuộc chiến Iran trong năm nay. Nhưng sự chịu đựng ngắn hạn khác với một cuộc phong tỏa kéo dài nếu Trung Quốc là mục tiêu chính.

Nếu xảy ra một cuộc xung đột kéo dài với Hoa Kỳ, các nguồn năng lượng thay thế, dự trữ và nguồn nhập khẩu đường bộ từ Nga khó có thể bù đắp cho sự mất mát từ nguồn cung cấp đường biển. Khi Tập Cận Bình cân nhắc cái giá phải trả trước khi gây hấn, áp lực ấy có thể trở thành một công cụ răn đe đối với ông.

Ngoài ra, năng lượng không phải là nguồn phụ thuộc duy nhất của Trung Quốc.

Trung Quốc nhập khẩu khoảng 80% quặng sắt, chủ yếu từ Úc. Phần lớn nguyên liệu đồng và lithium, vốn rất quan trọng đối với sản xuất pin và quốc phòng, đến từ Úc, Chile, Cộng hòa Dân chủ Congo và Peru.

Cũng như dầu mỏ, các sự lệ thuộc này tạo áp lực, răn đe và gây khó khăn cho Trung Quốc. Nếu Úc hạn chế xuất khẩu quặng sắt, lithium, còn Hoa Kỳ và các đồng minh siết quyền mua đồng và cobalt, thì Trung Quốc sẽ nhận được tín hiệu rằng nền công nghiệp và năng lực quốc phòng của họ có thể bị ảnh hưởng.

Ngoài hàng hóa nguyên liệu, Hoa Kỳ cần hạn chế Trung Quốc trong các lĩnh vực then chốt của hàng không vũ trụ, nơi Trung Quốc phụ thuộc nhiều vào nước ngoài.

Nhà sản xuất Comac của Trung Quốc cạnh tranh với Boeing và Airbus với dòng C919, nhưng hơn 60% các bộ phận vẫn được nhập khẩu từ nước ngoài.

Đàm phán, lập kế hoạch và điều chỉnh thỏa thuận là nền tảng của cạnh tranh. Nếu làm đúng và kết hợp với năng lực răn đe, sự chuẩn bị này sẽ khiến Bắc Kinh chùn bước.

BÀN TAY LÔNG LÁ

Ngoài việc hạn chế các mối đe dọa trước mắt và răn đe, mục tiêu của đòn bẩy cạnh tranh là biến các thế mạnh của Bắc Kinh thành điểm yếu bằng cách phơi bày các hành vi bí mật gây bất ổn của Trung Quốc.

Hệ thống độc tài của Trung Quốc thể hiện qua các hoạt động kiểm soát thông tin và các chiến thuật kinh tế, quân sự bí mật. Tuy nhiên, bàn tay giấu mặt của Trung Quốc là một điểm yếu mà Washington vẫn chưa khai thác đủ.

Các nỗ lực của Trung Quốc nhằm định hình dư luận toàn cầu nhằm phục vụ 2 mục tiêu lớn.

Mục tiêu thứ nhất là chống đỡ trước sự chỉ trích và can thiệp quốc tế đối với những gì Bắc Kinh xem là công việc nội bộ, đặc biệt là ý đồ đối với Đài Loan và các chính sách đàn áp tại Tân Cương, Tây Tạng và Hồng Kông.

Mục tiêu thứ hai là định hình chính sách đối ngoại và đối nội của một số quốc gia theo hướng phục vụ lợi ích chiến lược của Bắc Kinh. Điển hình là xây dựng các liên minh trong Liên Hiệp Quốc để tránh bỏ phiếu chống Trung Quốc và nuôi dưỡng các chính trị gia thân thiện có thể lèo lái lập trường của chính phủ họ về Đài Loan và nhân quyền.

Hoa Kỳ có khả năng phơi bày các hoạt động xấu của Trung Quốc trên toàn thế giới. Chính phủ Mỹ cần củng cố các cơ quan truyền thông như Radio Free Asia, vốn đang bị phân tán. Mỹ cần hợp tác với các đồng minh để xác định, quy trách nhiệm và phơi bày các chiến dịch gây ảnh hưởng do Đảng Cộng sản Trung Quốc hậu thuẫn. Mỹ cũng nên giúp các nhà báo, học giả và nhà nghiên cứu độc lập phát hiện và trưng bày các hoạt động xấu của Trung Quốc.

Điểm yếu lớn nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc có lẽ cũng là điểm đơn giản nhất: nó không chịu được việc bị nhận diện đúng bản chất.

Phơi bày các hành vi gây bất ổn của Trung Quốc sẽ buộc Bắc Kinh phải đầu tư thời gian và nguồn lực để sơn phết những vết hoen ố trên hình ảnh được chăm chút kỹ lưỡng của mình.

Một thế giới nhìn Trung Quốc rõ hơn sẽ là một thế giới khó bị khuất phục bởi các chiến dịch gây áp lực của Bắc Kinh.

KẾT LUẬN

Trong thập niên qua, Trung Quốc đã trở nên mạnh hơn và tự tin hơn. Trung Quốc tăng cường phát triển quân sự tại Biển Đông, quấy nhiễu và hăm dọa các đồng minh của Hoa Kỳ như Nhật Bản và Philippines, đồng thời tiến hành chiến tranh kinh tế và chính trị chống lại các quốc gia đi ngược ý muốn của Bắc Kinh.

Trong giai đoạn này, Mỹ đã đúng khi xác định Trung Quốc là thách thức hàng đầu đối với Hoa Kỳ. Nhưng họ vẫn chưa có chiến lược để đối phó.

Chiến lược này cần có 3 mục đích rõ ràng là: 1. hạn chế khả năng Trung Quốc đe dọa Hoa Kỳ; 2. làm cho Trung Quốc tốn kém hơn khi gây sự; và cuối cùng, 3. tăng cường sự ổn định của Mỹ và các nước đồng minh.

Các biện pháp có thể sử dụng để đạt được mục tiêu này cần được lên kế hoạch rõ ràng về thời điểm và thứ tự thực hiện.

Một số việc, như kiểm soát chất bán dẫn tối tân và thiết lập các sáng kiến hợp tác thương mại, nên được thực hiện ngay lập tức. Những biện pháp khác, như việc sử dụng ảnh hưởng của đồng đô la, dầu mỏ và các nguyên liệu khác của Trung Quốc, nên được áp dụng trong các tình huống khẩn cấp hoặc xung đột.

Trong hầu hết các trường hợp, không có phương thức đơn lẻ nào đủ hiệu quả. Đòn bẩy thực sự dựa trên áp lực đa chiều. Chính vì vậy, các nhà hoạch định chính sách của Mỹ không chỉ xây dựng đòn bẩy nhằm vào các sự lệ thuộc hiện tại của Trung Quốc, mà còn phải nhìn xa hơn.

Hoa Kỳ đã từng trải qua các cuộc cạnh tranh với các cường quốc, nhưng chưa bao giờ tự trói tay sau lưng, không dám đụng đến phần lớn điểm yếu của đối phương.

Trung Quốc đang tập trung vào cuộc cạnh tranh định hình thế kỷ này. Trung Quốc ngày càng tự tin hơn trong việc thử thách Hoa Kỳ, trừng phạt các bạn bè của Mỹ và biến sự lệ thuộc của Mỹ thành một con bài mặc cả. Đối diện với thách thức ấy, Hoa Kỳ cần một chiến lược kết hợp các đòn bẩy cạnh tranh.

Chỉ có như vậy thì Washington mới có thể tận dụng lợi thế của mình.

Nguồn: Ratner, E., & Danby, N. (2026, June 10). The fault lines in China’s power: America must build—and use—leverage against Beijing. Foreign Affairs.

Related posts