‘Khu tô giới’ tại Philippines: Chiêu mới của Mỹ để bẻ gãy chuỗi cung ứng Trung Quốc

Nguồn: Nhạn Mặc, 雁默:菲律宾的“美国租界”,不能等闲视之, Guancha, 25/04/2026.

Biên dịch: Lê Thị Thanh Loan

Cuộc đối đầu Mỹ – Trung đã đi đến giai đoạn nào? Cá nhân tác giả cho rằng, nó đã đạt đến giai đoạn mà chúng ta (Trung Quốc) buộc phải tự thuyết phục mình rằng: “Mỹ sẽ không sụp đổ”. Trong cuộc chiến dai dẳng mang tính sử thi này, dù mới trải qua vài năm nhưng không khó để nhận ra, Mỹ không chỉ liên tục tấn công vào điểm yếu, mà còn nhắm vào cả những điểm mạnh của Trung Quốc, không ngừng tìm cách làm suy giảm ý chí phản kháng cũng như năng lực đáp trả của chúng ta.

Chuỗi cung ứng công nghiệp hoàn chỉnh, hệ sinh thái chế biến khoáng sản trọng yếu và khả năng ứng dụng công nghệ là những thế mạnh của Trung Quốc. Chiến lược của Mỹ từng là “tách rời toàn diện”, nhưng sau khi va phải bức tường thực tế, họ đã chuyển hướng: Tránh tách rời hoàn toàn, thay vào đó tập trung đánh vào những lĩnh vực mà nước này vẫn còn lợi thế, nhằm đẩy Trung Quốc vào vị trí thứ yếu trong hệ thống công nghiệp toàn cầu – khi mà hiện nay, Trung Quốc đang là hạt nhân của hệ thống này.

Cụ thể, Mỹ sử dụng chiến thuật vừa gây sức ép vừa dụ dỗ các nước láng giềng của Trung Quốc chọn phe, nhằm tách họ ra khỏi hệ thống của Trung Quốc. Điều này không mới, nhưng hiện nay Mỹ đang triển khai những phương thức mới.

Các nước láng giềng cũng chính là một lợi thế của Trung Quốc, bởi sự trỗi dậy của họ là một phần quan trọng của xu thế “Đông thịnh Tây suy”, trong đó Trung Quốc đóng vai trò là “động cơ”. Vì vậy, có thể nói rằng, Mỹ sẵn sàng nhắm vào cả những thế mạnh của Trung Quốc, không bận tâm đến danh tiếng, cũng không sợ thất bại. Do đó, thay vì kỳ vọng Mỹ sẽ sụp đổ, có lẽ nên giả định rằng nước Mỹ sẽ phục hưng, bởi chúng ta vốn chẳng có dư địa để lơ là.

Bài viết này nhằm phân tích và giải thích một “đòn phối hợp mới” mà Mỹ vừa tung ra trong cuộc cạnh tranh chuỗi cung ứng và công nghệ cao với Trung Quốc – đó là “khu tô giới Mỹ” cộng với quy tắc xuất xứ hàng hóa trong thương mại.

“Khu tô giới Mỹ” ngay trước cửa nhà

Vào tháng Tư, chính quyền Trump đã đạt được thỏa thuận với Philippines về việc xây dựng một “trung tâm sản xuất công nghệ cao được vận hành bởi AI” tại đảo Luzon, với diện tích 4.000 mẫu Anh (khoảng 1.618,72 ha). Trung tâm này sẽ được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao, giống như sự bảo hộ mà Đại sứ quán Mỹ đang có, thời hạn thuê 2 năm và có thể gia hạn thêm 99 năm.

Đây là cơ sở đầu tiên trong khuôn khổ sáng kiến mang tên “Pax Silica” (Hòa bình Silicon) do Mỹ dẫn dắt, được mô tả là một “trục thúc đẩy công nghiệp lấy AI làm nền tảng” (AI-native industrial acceleration hub). Theo đó, Philippines đã trở thành thành viên thứ 13 của liên minh này.

Nếu bóc tách lớp vỏ ngôn từ hào nhoáng bên ngoài, thì về bản chất, đây là một dạng “khu tô giới” hiện đại nhằm vào Trung Quốc – một hình thức chủ nghĩa đế quốc không che đậy, đồng thời cũng là một công cụ cạnh tranh địa chính trị thực dụng.

Mục tiêu chiến lược của trung tâm này là khóa chặt các lĩnh vực công nghệ cao và khoáng sản trọng yếu, đồng thời “giảm sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng của Trung Quốc (Chú thích: Khu công nghiệp này tập trung vào sản xuất tiên tiến, tự động hóa cao và vận hành bởi AI, bao gồm chế biến khoáng sản trọng yếu như niken, đồng và cobalt, cũng như sản xuất bán dẫn và thiết bị điện tử). Mỹ muốn kéo các nước láng giềng của Trung Quốc cùng giảm phụ thuộc để tái cấu trúc chuỗi cung ứng. Đối với Mỹ, đây là chiêu mới của chiến lược “tách rời có chọn lọc”; còn với các nước láng giềng của Trung Quốc, đây là “viên thuốc độc bọc đường”.

Philippines cung cấp đất miễn phí và Mỹ sử dụng mà không phải trả tiền thuê. Khu vực này vận hành dưới hình thức “đặc khu kinh tế” theo Thông luật Mỹ (Common Law), được gọi là “Friend-shoring 2.0”.

Chính quyền Marcos Jr. bị coi là phụ thuộc vào Mỹ đến mức gần như là “bù nhìn”. Dưới sự lãnh đạo đó, lợi ích của người dân Philippines và vấn đề chủ quyền có thể bị tô hồng hoặc làm mờ nhạt, cho đến khi “khu tô giới” về mặt bản chất này được nhìn nhận như một mô hình đặc khu tiến bộ.

Mục tiêu chính của khu công nghiệp này là thu hút doanh nghiệp Mỹ vào đầu tư, theo đó được hưởng đãi ngộ và bảo hộ như trên đất Mỹ, không chịu sự can thiệp từ nước ngoài (chính quyền sở tại), được hưởng mức thuế quan và thuế kinh doanh gần như bằng không, đồng thời tận dụng được nguồn đất đai và lao động giá rẻ mà nội địa Mỹ không thể cung cấp, trong khi vẫn duy trì được quyền kiểm soát thực chất và bằng sáng chế công nghệ.

Đồng thời, các sản phẩm của khu công nghiệp còn sở hữu hai “quốc tịch”: Bán sang Mỹ thì được coi là “Made in USA” và được hưởng miễn thuế chiến lược; bán sang Philippines thì cũng được coi là “Made in USA” và được hưởng ưu đãi thuế suất bằng không theo Hiệp định thương mại Mỹ – Philippines năm 2025; bán sang các quốc gia khác trên thế giới thì được coi là “Made in Philippines” và được hưởng lợi ích thương mại từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) của Philippines. Ví dụ, khi bán sang các nước thành viên RCEP, các doanh nghiệp Mỹ trong khu sẽ trực tiếp hưởng đãi ngộ thuế suất thấp hoặc bằng không.

Vậy ngoài việc gần như miễn thuế quan, doanh nghiệp Mỹ trong khu có phải nộp thuế kinh doanh hay thuế thu nhập cho Philippines không? Về mặt pháp lý là có, nhưng trên thực tế e rằng là không. Mặc dù khu công nghiệp kiểu “tô giới” này đã gây ra nhiều tranh cãi pháp lý ngay trong nội bộ Philippines, nhưng người Philippines đồng thời cũng mong muốn có được đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), chuyển giao công nghệ, việc làm và cả giá trị địa chính trị. So với những lợi ích đó, những tranh cãi pháp lý chỉ như “lời thì thầm của giới trí thức”, cuối cùng khó tạo thành tác động thực tế.

Các bạn còn nhớ Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (IPEF) thời Biden không? Việc không nhớ cũng là bình thường, vì hiệp định đó cùng lắm chỉ có thể coi là một lời khuyên đạo đức kiểu “hãy đối tốt với doanh nghiệp Mỹ một chút”, nên chẳng mấy ai bận tâm. Còn hiện nay, mô hình Friend-shoring 2.0 kiểu “tô giới” có thể được coi một vùng ngoài pháp lý kiểu “anh đối xử tốt với doanh nghiệp Mỹ hay không cũng không quan trọng, vì anh không quản được tôi”.

Tuy nói là vùng ngoài pháp lý, nhưng đối với 13 quốc gia ký kết “Pax Silica”, hàng hóa sản xuất theo luật Mỹ có độ minh bạch pháp lý và chất lượng cao hơn hàng “Made in Philippines”. Và các sản phẩm chiến lược xuất từ khu này, dù nước nhập khẩu không có FTA với Philippines, vẫn có thể được miễn thuế. Đây là một phần tính hợp lý của mô hình “tô giới”.

Chỉ xét riêng về độ minh bạch quy định và tính ổn định của hợp đồng, lấy Apple làm ví dụ, rủi ro về quy định và chính trị (như chủ nghĩa bảo hộ) trong sản xuất tại Ấn Độ rõ ràng cao hơn so với tại “khu tô giới Mỹ”. Do đó, họ thực sự có động lực để chuyển một phần các khâu sản xuất có độ nhạy cảm cao sang đảo Luzon, điều này sẽ buộc Ấn Độ phải tăng cường độ minh bạch quy định, bảo đảm hợp đồng và giảm thiểu sự can thiệp của chủ nghĩa bảo hộ.

13 quốc gia ký kết gồm Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Ấn Độ, Philippines, Úc, Israel, UAE, Anh, Hà Lan, Thụy Điển và Phần Lan. Các quốc gia quan sát viên gồm Đài Loan, Liên minh châu Âu, Canada và OECD.

Khái niệm thì hợp lý, “vật chủ” cũng đã tìm được. Nhưng vật ký sinh mang tên “tô giới” này có hấp thụ đủ dưỡng chất để tồn tại hay không? Có hai vấn đề: Một là có thể loại bỏ hoàn toàn linh kiện chế tạo tại Trung Quốc không? Hai là có thể tự tách khỏi thị trường Trung Quốc không?

Về điểm thứ nhất: Đối với linh kiện chiến lược, “Pax Silica” yêu cầu loại bỏ hoàn toàn; còn đối với linh kiện cơ bản thông thường, hàm lượng “sản xuất tại Trung Quốc” về nguyên tắc phải thấp hơn 10%, đồng thời khuyến khích các hãng xưởng chuyển đơn hàng cho các doanh nghiệp bản địa của Ấn Độ, Việt Nam hoặc Philippines, với mục tiêu là “0% Trung Quốc”.

Việc hoàn toàn tách rời khỏi Trung Quốc quả thực không dễ dàng trong giai đoạn đầu, nhưng đối với các doanh nghiệp Mỹ, điểm mấu chốt nằm ở chỗ liệu chi phí “thoát Trung” có thể được bù đắp bằng các ưu đãi như mức thuế thấp, đơn hàng được đảm bảo và khả năng tiếp cận gần nguồn khoáng sản hay không.

Về điểm thứ hai: Về quy mô thị trường, 13 thành viên này thực sự có sức tiêu thụ đáng kể, đặc biệt khi xét đến việc nguồn mua sắm chính phủ của 13 bên đều ưu tiên “khu tô giới Mỹ” hoặc các nơi sản xuất tương tự. Tuy nhiên, điều này chỉ giới hạn trong các ngành đặc thù như AI cao cấp hay chip quốc phòng;  còn nếu là các sản phẩm điện tử tiêu dùng thông thường, gần như không thể loại trừ thị trường Trung Quốc.

Hơn nữa, nếu nhìn vấn đề từ góc độ của Jensen Huang, thành tích là một chuyện, tính bền vững lại là chuyện khác. Việc toàn bộ hệ thống AI cao cấp tách rời khỏi thị trường Trung Quốc sẽ không có lợi cho doanh nghiệp Mỹ trong cạnh tranh công nghệ, thậm chí có nguy cơ thất thế.

Có lẽ các bạn đã nhận ra xu hướng “một thế giới, hai hệ thống” mà tác giả từng nhiều lần nhắc tới trước đây; Mỹ đang thực hiện lộ trình này, trọng tâm chiến lược hiện nay của họ chính là tranh thủ thời điểm vẫn còn nắm giữ một phần ưu thế để kéo càng nhiều quốc gia vào hệ thống của mình càng tốt. Mặt khác, khi Trung Quốc từ chối H200, điều đó cũng tượng trưng cho việc con đường hoàn toàn tự chủ đã không thể đảo ngược: Nước này quyết tâm tách khỏi Mỹ trong các lĩnh vực cạnh tranh then chốt để hình thành hệ thống riêng.

Việc tái cấu trúc chuỗi cung ứng bằng mô hình “tô giới” lấy hạt nhân là vốn và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Mỹ, bao gồm năng lực cực kỳ quan trọng là khả năng thương mại hóa đổi mới sáng tạo. Nhưng chỉ vậy vẫn chưa đủ. Cần phải kết hợp thêm quy tắc xuất xứ, và dùng sức mạnh của thị trường Mỹ để tạo ra một chuỗi cung ứng loại trừ Trung Quốc.

Vòng kim cô siết lên các nước láng giềng của Trung Quốc

Đối tượng thực sự mà “Pax Silica” nhắm tới là các quốc gia ASEAN, đặc biệt là những nước phụ thuộc cao vào việc nhập khẩu nguyên liệu thô và linh kiện từ Trung Quốc để gia công rồi xuất khẩu sang Mỹ như Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Myanmar, Campuchia và Indonesia.

Truyền thông Mỹ tiết lộ rằng, gần đây nhiều chuyên gia thương mại từ Đông Nam Á đã tham dự một sự kiện tại New York do các đại diện đàm phán thương mại cấp cao của Mỹ tổ chức. Trong cuộc họp, khi phía Mỹ đề cập việc chính quyền Trump đang cân nhắc áp đặt các quy tắc kỹ thuật nhằm hạn chế tỷ lệ thành phần Trung Quốc trong hàng hóa xuất sang Mỹ, cả căn phòng vang lên tiếng hít sâu đầy lo ngại.

Hoặc mất đi nguồn cung từ Trung Quốc, hoặc mất đi thị trường Mỹ. Dường như giới thương mại Đông Nam Á từng nghĩ rằng, sau đòn đáp trả bằng đất hiếm của Trung Quốc, Mỹ đã nhượng bộ và không còn nghĩ tới việc động đến chuỗi cung ứng của Trung Quốc nữa. Nhưng giờ đây họ nhận ra rằng, Mỹ vẫn kiên quyết bám riết không buông.

Việc quy định rằng “thành phần Trung Quốc” không được vượt quá 10%, nếu không sẽ không được hưởng thuế quan ưu đãi của Mỹ, chắc chắn sẽ đẩy các doanh nghiệp Đông Nam Á vào cơn ác mộng phải liên tục tự kiểm tra xem mình có còn tuân thủ quy định hay không. Xét từ lập trường của Mỹ, cá nhân tác giả cho rằng đây cũng là một chiến lược “hợp lý”.

Nếu đã quyết tâm tiến tới hai hệ thống riêng biệt, thì tự nhiên sẽ không thể dung thứ cho chủ nghĩa “đu dây”, đặc biệt là trong lĩnh vực cạnh tranh bằng “tiền tươi thóc thật”. Điều này giúp chúng ta hiểu tại sao hệ thống ngoại giao của Trung Quốc gần đây đã tăng cường quay lại Đông Nam Á, còn các nước láng giềng chắc hẳn cũng mong Trung Quốc đứng ra “chủ trì công đạo”.

Lý do tác giả cho rằng chiến lược này “hợp lý” là vì quy tắc xuất xứ nhiều khả năng chỉ là một chiêu tung hỏa mù. Mục tiêu thực sự của Mỹ là xây dựng hàng loạt “khu tô giới Mỹ” tại Đông Nam Á, tập trung nguồn lực đánh vào các lĩnh vực then chốt liên quan đến an ninh, thay vì một “chiến trường trải rộng toàn bộ dòng sản phẩm” mà Mỹ chắc chắn sẽ thua.

Cái gọi là “thiết lập rộng rãi khu tô giới Mỹ” không có nghĩa là sao chép y hệt mô hình Philippines, mà là tùy theo điều kiện từng quốc gia để mô phỏng mô hình sẵn có, nhằm mở rộng các nút thắt của chuỗi cung ứng loại trừ Trung Quốc, tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh.

Dưới góc độ chuỗi cung ứng Đông Á lấy Trung Quốc làm hạt nhân, chiến lược của Mỹ là “phi tập trung hóa”, hay nói cách khác là ý đồ tạo ra một “bản sao chuỗi cung ứng” có thể vận hành mà không cần Trung Quốc.

Ở mặt khác của quy tắc xuất xứ, Mỹ còn yêu cầu các đối tác thương mại phải mua các nguồn khoáng sản trọng yếu thay thế với giá cao, gọi đó là “phụ phí an ninh”, nhằm xây dựng chuỗi cung ứng an toàn.

Sau khi đã thương thảo xong “khu tô giới Mỹ” tại Philippines, những phát ngôn này của các đại diện thương mại Mỹ không còn gì lạ lẫm. Việc yêu cầu đối tác thương mại ủng hộ sản phẩm xuất khẩu từ “khu tô giới Mỹ” là hoàn toàn hợp tình hợp lý và thực sự cần thiết. Đối với đại diện thương mại Mỹ, việc mở rộng số lượng các quốc gia ký kết “Pax Silica” có lẽ là thành tích quan trọng nhất hiện nay.

Nói cách khác, sau khi thất thế trong cuộc chiến thương mại với Trung Quốc, Mỹ đã mở ra một chiến trường mới. Đó không phải là một cuộc chiến thương mại diện rộng, mà là xây dựng pháo đài và hành lang an toàn trong các lĩnh vực then chốt – mà vốn cũng là những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao.

Hết vòng kim cô này đến vòng kim cô khác được đội lên đầu các nước láng giềng của Trung Quốc, mục đích là buộc họ phải chọn phe, thế nhưng cũng không đẩy họ đến đường cùng. Đó là vì Mỹ chỉ quan tâm đến các lĩnh vực trọng yếu và sẽ “chừa đường sống” ở những lĩnh vực khác – để rồi đến lúc đó, họ sẽ phải mang ơn Mỹ.

Hãy phản đòn! Có như vậy Mỹ mới chịu dừng tay

Những người tỉnh táo chắc hẳn đều nhận ra rằng, tiền đề của “chiến lược tô giới” là doanh nghiệp Mỹ phải chịu bỏ tiền đầu tư, mà để doanh nghiệp Mỹ chịu bỏ tiền thì điều kiện tiên quyết là chính phủ Mỹ phải loại bỏ sự bất định. Trong đó, “khu tô giới” chỉ có thể cung cấp một phần tính chắc chắn (như về quy định pháp lý, thị trường), nhưng nguồn bất định lớn nhất lại đến từ địa chính trị.

Về lý thuyết, Philippines càng mất an toàn thì mức độ an toàn của “khu tô giới” càng thấp. Doanh nghiệp Mỹ hiện nay có thể liên tưởng đến các trung tâm dữ liệu AI mà họ xây tại các nước Vùng Vịnh, còn các “khu tô giới Mỹ” ở Đông Á đương nhiên cũng là mục tiêu nổi bật nằm trong tầm ngắm của tên lửa. Ngoài ra, chính trị nội bộ nước Mỹ cũng đầy rẫy sự bất định. Phải thừa nhận rằng, Trump là người có nhiều mánh khóe và tham vọng bành trướng mạnh mẽ, nhưng 3 năm nữa thì sao? Đừng nói là 3 năm, nếu Trump xảy ra biến cố ngay trong năm nay thì sao?

Hơn nữa, Trung Quốc cũng đã có công cụ mới để ứng phó. Vào tháng Tư, Quốc vụ viện công bố Quy định của CHND Trung Hoa về chống lại việc nước ngoài áp dụng quyền tài phán ngoài lãnh thổ không chính đáng, nhằm phản chế các hình thức “cánh tay nối dài” của nước ngoài. Đây cũng là một chiến lược buộc các doanh nghiệp đa quốc gia phải đánh giá lại chi phí tuân thủ, và có tác dụng răn đe đối với các quốc gia ký kết “Pax Silica”.

Các doanh nghiệp Mỹ sẵn sàng bước vào “khu tô giới Mỹ” có thể không phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc, nhưng cả đầu vào lẫn đầu ra của họ đều cần các nước thành viên ký kết chi trả. Nếu các nước ký kết lo sợ bị Trung Quốc trả đũa hoặc bị đưa vào danh sách “thực thể thù địch”, thì việc kinh doanh trong “khu tô giới” sẽ đầy rủi ro bất định.

Đó là lý do vì sao chúng ta nên giả định rằng Mỹ sẽ phục hưng, chứ không phải sụp đổ. Ở bên kia Thái Bình Dương là một quốc gia mà chúng ta không thể xem nhẹ. Cho dù nước Mỹ chia rẽ trong nội bộ, đồng minh dao động, nợ công liên tục lập đỉnh, quân đội hào nhoáng hơn thực chất, thì họ vẫn tuyệt đối tin vào chủ nghĩa Darwin xã hội. Họ giỏi tiến hóa nhanh chóng, và khi không kịp tiến hóa, nước này sẽ tạo ra môi trường mới để tự thích nghi.

Suy cho cùng, chiến thuật của Mỹ rất đơn giản: Liên tục tung chiêu, khiến đối thủ mệt mỏi chạy theo đối phó, không ngừng bào mòn ý chí kháng cự của đối phương, cho đến khi họ mệt rồi chấp nhận nhượng bộ.

Trung Quốc ngày nay có đủ thực lực để tiến hành một cuộc chiến kéo dài, nhưng tinh thần chiến đấu không mạnh bằng Mỹ. Bởi Trung Quốc là bên đang trỗi dậy với tiền đồ xán lạn nên không muốn phát sinh biến cố. Mặt khác, Mỹ là bên đang suy yếu, phải “lấy chiến nuôi chiến”, nếu không gây chuyện thì “coi như xong”.

Nhìn từ tầm chiến lược, việc Mỹ dám đánh vào thế mạnh của Trung Quốc là rất đáng nể về mặt tinh thần, nhưng việc “lấy nhỏ đánh lớn” có rủi ro cực cao. Họ chỉ có thể đặt cược vào việc ý chí của Trung Quốc không đủ kiên định, vì quá phiền nhiễu mà sẽ thỏa hiệp để hòa hoãn. Do đó, Trung Quốc phải phản đòn! Phản đòn! Có như vậy Mỹ mới chịu dừng tay và từ bỏ ảo tưởng giành chiến thắng trong hiểm cảnh.

ASEAN là đối tác thương mại lớn nhất, có thể nói là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc trên phương diện kinh tế và ngoại giao. Bất kỳ sự ly gián, chia tách, lôi kéo hay thu phục nào từ thế lực bên ngoài đều phải bị đáp trả trực diện.

Đừng nghĩ rằng “khu tô giới Mỹ” ngay trước cửa nhà chưa gây tổn hại đáng kể trong ngắn hạn mà bỏ qua. Các bên tham gia chính trong hành lang kinh tế đảo Luzon còn có cả Nhật Bản. Do đó, vấn đề này phải được xem xét cùng với sự “tái quân sự hóa” của Nhật Bản; các sản phẩm chính của “khu tô giới” chắc chắn sẽ liên quan trực tiếp đến công nghiệp quân sự và nhất định sẽ liên quan đến vấn đề Đài Loan.

Nói một cách đơn giản, không nên để “khu tô giới Mỹ” trước cửa nhà có một môi trường phát triển ổn định; đối với những nước láng giềng tham gia “Pax Silica”, phía Trung Quốc nên bày tỏ nghiêm túc lập trường của mình.

Related posts