Thái tử Iran là nhân tố không thể thiếu cho tương lai chính trị nước này

Nguồn: Abbas Milani, “Iran’s Crown Prince Has Become Indispensable”, Foreign Policy, 16/01/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy

Reza Pahlavi sinh ra trong một thời kỳ đầy biến động. Cha ông, Vua Mohammad Reza Pahlavi, lúc đó đang đối mặt với một trong những bước ngoặt đau đớn nhất trong triều đại kéo dài từ năm 1941 của mình. Trong khoảng năm năm trước và sau khi con trai chào đời vào ngày 31 tháng 10 năm 1960, ông đã tái hôn, bị thúc đẩy bởi nỗi lo lắng về nối dõi dòng tộc và nhu cầu cấp thiết có người kế vị, trong khi phải đối mặt với áp lực kinh tế ngày càng tăng và sự thay đổi xã hội dồn dập. Ông đang trên bờ vực phát động một cuộc Cách mạng Trắng, một chương trình cải cách mang tính bước ngoặt làm thay đổi vĩnh viễn cấu trúc xã hội Iran: từ việc tái phân phối ruộng đất, trao quyền bầu cử cho phụ nữ, mở rộng giáo dục, cho đến việc xóa bỏ có hệ thống các tôn ti trật tự truyền thống.

Làn sóng phản đối những cải cách này, đặc biệt là việc chia lại ruộng đất và trao quyền chính trị cho nữ giới, đã kết tụ quanh Ruhollah Khomeini, một giáo sĩ vốn mờ nhạt,  người đã kích động bạo lực đường phố và lợi dụng chủ nghĩa dân túy tôn giáo để trực tiếp thách thức các chương trình cải cách của nhà vua. Giữa tâm điểm của những kỳ vọng và âu lo tột độ ấy, Hoàng hậu Farah đã hạ sinh một người con trai. Cậu bé được đặt tên là Reza và gần như ngay lập tức được sắc phong làm Thái tử.

Chưa đầy hai thập kỷ sau, chính vị giáo sĩ năm nào đã lật đổ chế độ quân chủ để dựng lên một chế độ thần quyền chuyên chế. Thế nhưng lịch sử, với những sự trớ trêu đầy nghiệt ngã, vẫn chưa dừng lại ở đó. Giờ đây, khi nhà nước Cộng hòa Hồi giáo đang phải đối mặt với một mối đe dọa tồn vong chưa từng có từ phong trào phản kháng lan rộng khắp cả nước, Reza lại trỗi dậy như một biểu tượng nhận được sự kỳ vọng lớn lao nhất cho tương lai chính trị của quốc gia này.

Có những người gạt bỏ sự ủng hộ ngày càng tăng dành cho Reza, coi đó chỉ là sự hoài niệm thuần túy. Tuy nhiên, hiện tượng này hoàn toàn có thể được hiểu là sự phản kháng quyết liệt của giới trẻ, một thế hệ sống phóng khoáng, am hiểu công nghệ và đang sục sôi giận dữ trước những ngã rẽ bi thảm mà lịch sử đã áp đặt lên cuộc đời họ, đồng thời cũng là nỗi niềm ân hận sâu sắc của những thế hệ người Iran đi trước.

Vào thời điểm cuộc Cách mạng Hồi giáo bùng nổ, Thái tử đang ở Mỹ để theo học và huấn luyện để trở thành phi công. Ông sớm cùng gia đình sống một cuộc đời lưu vong. Cuối năm 1979, ngay sau khi Vua Pahlavi trải qua một ca phẫu thuật tại New York, gia đình ông, trong một khoảnh khắc ngắn ngủi và đầy tủi hổ, bị giam lỏng ngay tại căn cứ không quân nơi Thái tử từng được đào tạo. Giữa lúc các nhà ngoại giao Mỹ bị bắt làm con tin tại Tehran, thì Vua Pahlavi và gia đình cũng trở thành “con tin bất đắc dĩ của thời cuộc”: họ bị đưa đi từ quốc gia này sang quốc gia khác, bị ghẻ lạnh bởi ngay cả những đồng minh từng một thời hưởng lợi từ sự hào phóng của nhà vua.

Khi phụ thân qua đời trong cảnh lưu vong tại Ai Cập, Reza đã bắt đầu một hành trình mà cho đến nay đã trở thành một cuộc viễn chinh dằng dặc suốt nhiều thập kỷ. Ông vốn có nhiều lựa chọn, nhưng ông đã chọn con đường ít người dám đi. Giống như hậu duệ của những vương triều sụp đổ khác, ông hoàn toàn có thể chọn một cuộc sống an nhàn có học thức, hoặc tệ hơn, là một cuộc đời ăn bám phù phiếm. Ông cũng có thể dùng danh nghĩa hoàng gia của mình để thương mại hóa bản thân thông qua sự nổi tiếng, những màn phô trương hào nhoáng, hay tích lũy tài sản bằng kinh doanh.

Ông đã không chọn bất kỳ điều nào trong số đó. Thay vào đó, ông dấn thân vào một nhiệm vụ gian nan tưởng chừng vô tận: nỗ lực gắn kết cộng đồng người Iran hải ngoại vốn đang rệu rã, tuyệt vọng và chia rẽ sâu sắc, nhằm xây dựng một thực thể có tầm vóc của một liên minh chính trị.

Trên con đường chông gai ấy, bước đầu ông không tìm kiếm lời khuyên từ những cận thần cũ, mà từ những nhân sĩ và chính trị gia dày dạn kinh nghiệm, những nhân vật như Ahmad Ghoreishi, cựu hiệu trưởng đại học, hay Hormoz Hekmat, một trong những trí thức kiệt xuất của thế hệ mình. Ông chủ động xóa bỏ những ranh giới ý thức hệ để tìm kiếm đồng minh từ những người phe bảo hoàng, phái tự do, phái dân tộc cho đến những người dân chủ xã hội và cả phái cánh tả thế tục. Mục tiêu lúc bấy giờ là tập hợp mọi lực lượng thành một tiếng nói chung duy nhất, nhằm truyền tải thông điệp của nhân dân Iran và những cuộc đấu tranh của họ ra thế giới.

Lấy Washington và Paris làm cứ điểm, ông bôn ba khắp nơi để diễn thuyết trước những cộng đồng người Iran thuộc mọi tầng lớp xã hội. Ông được nhìn nhận như một nhân tố gắn kết. Văn phòng nhỏ của ông dường như chỉ đơn thuần là nơi tổ chức các cuộc hội kiến. Có vô số tổ chức với những lập trường khác biệt, thậm chí là xung đột, đều tự nhận là thân cận với ông, nhưng thực chất mỗi bên đều nuôi dưỡng những mưu đồ riêng. Ông tìm cách tranh thủ sự ủng hộ của tất cả nhưng đồng thời vẫn giữ một khoảng cách chừng mực. Đôi khi, ông thẳng thắn tuyên bố rằng mình không chấp nhận những lời lẽ thô bạo hay các thủ đoạn cực đoan nhằm dập tắt tiếng nói của những người không ủng hộ việc khôi phục hoàng gia. Những tuyên bố này khiến phe ủng hộ quá khích thất vọng, trong khi phe chỉ trích lại cho rằng ông vẫn chưa làm đủ trách nhiệm để chấm dứt những hành vi đó.

Ông đã nhẫn nhịn chịu đựng sự nhạo báng từ chế độ giáo sĩ, kể cả đòn hạ thấp đầy vẻ khinh miệt của Khomeini khi gọi ông là “Pahlavi ranh con”. Thế nhưng, ông vẫn kiên định vững bước trên con đường của mình.

Khi những thất bại của Cộng hòa Hồi giáo Iran ngày một chồng chất, từ sự cứng nhắc giáo điều, năng lực quản trị kinh tế yếu kém, tham nhũng có hệ thống cho đến chủ nghĩa đế quốc liều lĩnh, cục diện chính trị Iran bắt đầu có những chuyển biến sâu sắc. Trong hai thập kỷ qua, chế độ này ngày càng bị chỉ trích gay gắt ngay tại quê nhà vì đã dồn quá nhiều nguồn lực vào việc bảo trợ các hoạt động đàn áp ở nước ngoài, chi hàng chục tỷ USD để duy trì chế độ độc tài Assad hay vũ trang cho các lực lượng ủy nhiệm tại Lebanon, thay vì chăm lo cho những nhu cầu thiết yếu của chính người dân mình. Khi tính chính danh của chế độ dần lung lay, trong các cuộc biểu tình tại Iran, đôi khi người ta đã nghe thấy những tiếng hô vang ủng hộ ông nội của Thái tử là Vua Reza Shah. Những khẩu hiệu sơ khởi đó chính là biểu hiện mang tính dân túy đầu tiên của một trào lưu xét lại về thời đại Pahlavi, một quá trình mà giới học giả vốn dĩ đã khơi mào trước đó từ lâu.

Giữa bối cảnh đó, Reza Pahlavi bắt đầu nhận được những lợi ích ứng từ việc dư luận nhìn nhận lại sự nghiệp của cha và ông nội mình: Vua Reza Shah, người sau cuộc đảo chính năm 1921 đã tiếp quản một quốc gia sụp đổ, và Vua Mohammad Reza Pahlavi, người lên nắm quyền từ năm 1941 để rồi đến năm 1978 đã dẫn dắt Iran trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng thần tốc nhất trong thế giới đang phát triển.

Góp phần quan trọng không kém vào làn sóng xét lại lịch sử này chính là vị thế ngày càng lớn mạnh của Hoàng hậu Farah, thân mẫu Thái tử, người mà phẩm giá khi đối mặt với cảnh lưu vong, mất mát và sự phỉ báng không ngừng đã đạt đến một phẩm chất gần như huyền thoại. Bà được công nhận là một nhà bảo trợ văn hóa và người kiến tạo các thiết chế xã hội, khi dẫn dắt các chương trình dành cho trẻ em Iran và tập hợp được một trong những bộ sưu tập nghệ thuật hiện đại đáng kinh ngạc nhất ngoài thế giới phương Tây: từ những tác phẩm của Picasso, Pollock cho đến Rothko. Từng bị chế giễu là những thứ xa xỉ phẩm xa rời thực tế, những tác phẩm này, vốn vẫn đang bị cất giấu trong các tầng hầm bảo tàng ở Tehran như những tàn tích “đồi trụy”, giờ đây lại được trân trọng mỗi khi xuất hiện và được định giá lên tới 5 tỷ USD.

Kết hợp lại với nhau, việc đánh giá lại thời đại Pahlavi và thực tại thảm khốc dưới sự cai trị của giới giáo sĩ đã dẫn đến một cuộc thức tỉnh mang tính thế hệ. Ba thế hệ người Iran hiện đã sống dưới những hạn chế hà khắc của một chế độ thần quyền lỗi thời bám chặt vào các giá trị hàng thế kỷ, được quản lý bởi một tầng lớp tinh hoa gồm những nhà tư tưởng già nua và những hậu duệ tham lam của họ. Trong khi đó, Iran vẫn là một xã hội trẻ, được thúc đẩy bởi những người phụ nữ và đàn ông quyết đoán, không sẵn lòng chấp nhận hiện trạng.

Những thế hệ trẻ này, khởi đầu từ cuộc Cách mạng Xanh năm 2009, đã dấy lên những làn sóng phản kháng liên hồi chống lại chế độ Hồi giáo. Đỉnh điểm của tiến trình này chính là phong trào “Phụ nữ, Sự sống, Tự do” năm 2022. Dù Reza không phải là nhân vật trung tâm trực tiếp dẫn dắt các cuộc biểu tình, nhưng ông đã kịp thời chuyển mình để thích ứng, ông chủ động gây dựng quanh mình một đội ngũ cố vấn, nhà hoạt động và tổ chức trẻ tuổi, những người vốn không chịu ảnh hưởng bởi lối mòn chính trị lưu vong, mà được nhào nặn từ chính thực tại đời sống và những luồng tư tưởng mới.

Đã không ít lần, khi được hỏi về hình dung của mình đối với một chính phủ mới sau khi chế độ hiện tại sụp đổ, ông đều khẳng định rằng hình thức chính thể chỉ là thứ yếu so với bản chất của nó. Thể chế ấy phải do người dân tự mình quyết định, nhưng cốt lõi của nó nhất thiết phải là chủ quyền thuộc về nhân dân, bình đẳng giới và quyền con người.

Ngay từ những ngày đầu dấn thân vào con đường hoạt động dân chủ, nền tảng ủng hộ của Reza đã mang tính chất hỗn tạp và thường xuyên nảy sinh những quan điểm bất đồng. Một bên là những người bảo hoàng kiên định, những người luôn theo đuổi tầm nhìn khôi phục vương triều dựa trên quyền lực của hoàng gia. Ở phía bên kia là những người dân chủ thế tục với nhiều khuynh hướng khác nhau, vốn không xem ông là một vị quân chủ tương lai mà là một nhân vật dân sự có khả năng quy tụ lòng dân. Ban đầu, mục tiêu của liên minh này còn khiêm tốn nhưng lại đóng vai trò sống còn: đó là khuếch đại tiếng nói của người dân Iran đang khao khát tự do, nhân phẩm và một chính phủ biết chịu trách nhiệm.

Khi sự đàn áp ngày càng leo thang trong những năm gần đây và khát khao thay đổi đã đúc kết thành lời kêu gọi lật đổ chế độ, vai trò của Reza cũng theo đó mà phát triển. Dần dà, dù không phải là không có những quan điểm phản đối, ông bắt đầu được nhìn nhận như một nhân vật có khả năng gắn kết một liên minh rộng lớn cả trong và ngoài Iran, nhằm điều hành quá trình mà giờ đây nhiều người coi là sự sụp đổ tất yếu của chế độ chuyên chế giáo sĩ.

Không phải là ông không có những người phản đối. Có ý kiến chỉ trích thái độ hiếu chiến của một bộ phận những người ủng hộ bảo hoàng và việc họ khăng khăng đòi hỏi sự trung thành tuyệt đối về ý thức hệ; họ coi đây là những điềm báo đầy lo ngại. Những người khác lại viện dẫn ký ức đau thương của năm 1979 và cảnh báo về một kịch bản “treo đầu dê bán thịt chó” lặp lại từ thời Khomeini. Trong những tháng ngày trước khi nắm quyền, qua mọi cuộc phỏng vấn, Khomeini đều hứa hẹn về một nền cộng hòa dân chủ mô phỏng theo Đệ ngũ Cộng hòa Pháp. Nhưng một khi đã chiếm được Iran, ông ta lại thiết lập một chế độ chuyên chế tương tự như nền thần quyền ngắn ngủi của Jerome Savonarola tại Florence thời Phục hưng.

Những mối quan ngại này không hề phù phiếm, nhưng chúng cũng không báo hiệu một kịch bản tuyệt vọng. Iran ngày nay đã khác xa với Iran của năm 1979. Cuộc đấu tranh bền bỉ cho dân chủ, sự đa dạng của các lực lượng đối lập, và sự thận trọng được hun đúc từ phong trào “Phụ nữ, Sự sống, Tự do” đã khiến một cuộc thâu tóm quyền lực độc tài trở nên khó thành hiện thực hơn. Hơn nữa, ngay từ trước cuộc cách mạng, Khomeini vốn đã có một bề dày những tư tưởng phản dân chủ cực đoan, chỉ là ông ta đã che đậy chúng một cách đầy hoài nghi trong những tháng cuối cùng. Sự chuyên chế không phải là một sự cố ngẫu nhiên trong quá trình cai trị của ông ta; nó chính là nguyên lý cốt lõi ngay từ đầu.

Lịch sử hoạt động của Reza minh chứng cho điều ngược lại. Suốt gần bốn thập kỷ qua, ông đã nỗ lực làm việc cùng những người khác, đôi khi đầy nản lòng, lúc lại chẳng mấy hiệu quả, nhưng luôn nhất quán, ông sẵn lòng hạ uy quyền cá nhân xuống dưới mục tiêu xây dựng khối liên minh chung.

Trớ trêu thay, chính vào thời điểm lịch sử đòi hỏi sự thượng tôn dân chủ hơn bao giờ hết, thì một số người ủng hộ nhiệt thành và ồn ào nhất của Reza lại cổ xúy cho những hành vi đi ngược lại với yêu cầu hiện tại cũng như những cam kết dân chủ mà ông đã tuyên bố. Có thể kể đến những nỗ lực phá rối các cuộc tuần hành do phe đối lập không thuộc phái bảo hoàng tổ chức, hay những cuộc tấn công trên mạng xã hội nhắm vào các nhân vật như chủ nhân giải Nobel Narges Mohammadi và luật sư nhân quyền Nasrin Sotoudeh.

Những nỗ lực lặp đi lặp lại của Reza nhằm tách mình khỏi những khuynh hướng cực đoan đó vẫn chưa thể thuyết phục được tất cả những người chỉ trích. Thế nhưng, một bộ phận đông đảo người Iran, cả ở trong nước lẫn hải ngoại, đã bắt đầu coi ông là nhân vật có khả năng quy tụ lòng dân đáng tin cậy nhất hiện nay. Một cuộc thăm dò của Gamaan, tổ chức khảo sát uy tín có trụ sở tại Hà Lan, cho thấy mức độ ủng hộ dành cho ông đạt khoảng một phần ba dân số, trong khi tỷ lệ phản đối hoặc chưa quyết định cũng ở mức tương đương. Trên chính trường Iran hiện nay, không một cá nhân nào có thể đạt đến mức độ tín nhiệm gần bằng con số đó.

Điều cốt yếu là Reza đã khẳng định, hết lần này đến lần khác, rằng ông không tìm kiếm quyền lực vì lợi ích cá nhân. Ông mô tả vai trò của mình một cách rõ ràng là mang tính quá độ: giúp dẫn dắt Iran thoát khỏi đống đổ nát của Cộng hòa Hồi giáo để tiến tới một trật tự dân chủ, thế tục mà hình hài cuối cùng của nó sẽ không do ông, hay bất kỳ vương triều hay phe phái nào định đoạt, mà bởi ý chí được tự do bày tỏ của nhân dân Iran. Trong một nền văn hóa chính trị vốn đã hằn lên vết sẹo bởi chủ nghĩa chuyên chế, dù là dưới thời quân chủ hay giáo sĩ, thì sự kiên định này có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Nếu Iran thực sự đang tiến gần đến thời khắc định đoạt, quốc gia này sẽ không cần một đấng cứu thế, mà cần một người điều phối, không cần một vị cứu tinh, mà cần một nhân vật có khả năng tạo dựng niềm tin qua những rạn nứt sâu sắc. Trong không gian hẹp nhưng không thể thay thế đó, Reza đã tự định vị mình không phải là kẻ cai trị, mà là người giám hộ cho một cuộc chuyển giao giữa các thời đại chính trị. Nếu thời khắc ấy đến, thật khó có thể hình dung một cuộc chuyển giao tại Iran mà thiếu đi vai trò đó của ông.

Abbas Milani là Giám đốc chương trình Nghiên cứu Iran thuộc Quỹ Hamid và Christina Moghadam, đồng thời là nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Hoover, cả hai đơn vị này đều trực thuộc Đại học Stanford.

Related posts