Châu Á hậu “kỷ nguyên Mỹ”

Nguồn: Zack Cooper, “Asia After America”, Foreign Affairs, 17/02/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy

Chiến lược xoay trục sang châu Á” đã thất bại. Cách đây một thập kỷ rưỡi, vào năm 2011, Tổng thống Barack Obama đã cam kết tái cân bằng chiến lược và nguồn lực của Mỹ để tập trung vào khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. “Đừng để ai phải nghi ngờ,” ông cam kết trong chuyến thăm Úc, “Mỹ đã dốc toàn lực vào chiến lược này”. Dù cách diễn đạt có thể thay đổi và giới chính trị cũng như các nhà hoạch định chính sách còn tranh cãi về chi tiết thực thi, nhưng những người kế nhiệm ông Obama đều khẳng định tính logic của chiến lược xoay trục, và quan điểm này đã sớm trở thành định hướng cốt lõi nhận được sự đồng thuận của cả hai đảng trong chiến lược của Mỹ. Hết bài phát biểu này đến bài phát biểu khác, các quan chức Mỹ nhấn mạnh rằng cách duy nhất để ngăn chặn Trung Quốc thống trị Châu Á là Mỹ cùng các đồng minh và đối tác phải đầu tư thật nhiều vào sự ổn định chính trị, kinh tế và quân sự của khu vực.

Thế nhưng gần 15 năm sau, các nhà lãnh đạo Mỹ vẫn chưa biến lời nói thành hành động. Những lời hứa thúc đẩy thịnh vượng và quản trị tốt hơn của Mỹ giờ đây chỉ nhận được những cái lắc đầu ngán ngẩm khắp Châu Á. Một nước Mỹ thường xuyên bị phân tâm đã bỏ bê phần lớn Đông Nam Á, Nam Á và các đảo quốc Thái Bình Dương. Ngày nay, chẳng còn ai buồn hỏi khi nào mới thực thi chính sách xoay trục. Thay vào đó, câu hỏi tại các nước trong khu vực là Mỹ sẽ còn rút lui đến mức nào.

Với việc Mỹ đối mặt với sự chia rẽ trong nước và xao nhãng ở nước ngoài, rõ ràng là việc cam kết sâu rộng trên toàn Châu Á không còn thực tế. Tuy nhiên, những giả định đằng sau chiến lược xoay trục vẫn tồn tại, cũng như những lời kêu gọi cuối cùng rồi cũng phải ưu tiên cho nỗ lực này. Vấn đề là việc duy trì một chiến lược không thể thực thi trong tương lai gần sẽ tạo ra những nguy hiểm riêng. Trong Thế chiến II, nhà bình luận chính trị Walter Lippmann từng viết rằng “chính sách đối ngoại thực chất là việc tạo ra sự cân bằng, với một lượng sức mạnh dự phòng dồi dào, giữa những cam kết của quốc gia với thực lực của quốc gia đó” và ông cảnh báo rằng việc không duy trì được sự cân bằng này “sẽ dẫn tới thảm họa”. Ngày nay, Washington đang có một “khoảng cách Lippmann” ở Châu Á: các phương tiện đã không tương xứng với mục tiêu trong quá lâu đến mức các cam kết của Mỹ đã mất đi uy tín. Khoảng cách giữa lời hứa và hành động càng kéo dài, nguy cơ thất bại thảm khốc trong việc răn đe càng lớn.

Việc xoay trục sang Châu Á dựa trên giả định rằng sức mạnh của Mỹ có khả năng thúc đẩy các nền kinh tế, chính phủ và quân đội khu vực đủ mạnh để ngăn chặn Trung Quốc lật đổ trật tự khu vực. Tuy nhiên, ngày nay, Washington không thực sự cạnh tranh được ảnh hưởng kinh tế và chính trị của Bắc Kinh trên phần lớn khu vực, đặc biệt là ở lục địa Châu Á. Chiến lược An ninh Quốc gia năm 2025 của chính quyền Trump đã thu hẹp rõ rệt các mục tiêu an ninh khu vực của Mỹ vào việc bảo vệ chuỗi đảo thứ nhất — một chuỗi các quần đảo chạy qua Nhật Bản, Đài Loan và Philippines — nhưng sự rút lui này đã diễn ra âm thầm trong nhiều năm.

Nhiều mắt xích trong vành đai phòng thủ mỏng manh này đang đứng trên nền đất không vững chãi: đó là các quốc gia vốn phụ thuộc chặt chẽ về kinh tế vào Trung Quốc, và do đó, dễ dàng bị khuất phục trước các áp lực chính trị cũng như các chiến dịch gây ảnh hưởng từ phía Bắc Kinh. Trung Quốc đương nhiên sẽ tìm cách thay thế Mỹ nếu Washington cắt giảm các cam kết. Việc xoay trục từng nhằm mục đích làm cho điều đó trở nên khó khăn, nếu không muốn nói là không thể, bằng cách chốt chặt sự tham gia của Mỹ và đảm bảo các nước trong khu vực đủ mạnh và tự tin để bảo vệ lợi ích của họ. Bằng cách đóng vai trò là đối trọng với nền kinh tế khổng lồ và ảnh hưởng chính trị đáng kể của Trung Quốc, Mỹ đã mang lại cho các nước này những lựa chọn. Nhưng khi Mỹ không còn can dự kinh tế và chính trị, họ phải đối mặt với viễn cảnh Trung Quốc có thể hớt tay trên từng đồng minh và đối tác của Mỹ. Nhiều quốc gia trong số này đã bắt đầu tính toán lại và kết luận rằng Bắc Kinh có thể là một đối tác hấp dẫn hơn — hoặc là một bá quyền khu vực không thể tránh khỏi.

Hệ quả là, bất kỳ chiến lược nào của Mỹ chủ yếu tập trung vào phòng thủ quân sự cho một nhóm nhỏ các quốc gia thuộc chuỗi đảo thứ nhất đều có thể không bền vững. Nhưng lựa chọn tốt hơn — một chiến lược xoay trục toàn diện — giờ đây đã trở thành điều bất khả thi trên phương diện thực tế. Những gì còn lại chỉ là một chiến lược dựa trên việc củng cố một phòng tuyến có thể không đứng vững được mãi mãi, nhưng trước mắt có thể kìm hãm được sự bành trướng của Trung Quốc. Nếu được thực hiện tốt, chiến lược như vậy có thể câu đủ thời gian để những sai lầm của Trung Quốc tạo ra những cơ hội mới cho Mỹ và các đồng minh. Sự thống trị khu vực của Trung Quốc hoàn toàn không được đảm bảo. Bắc Kinh đang ngày càng tự tin thái quá và có khả năng sẽ đi quá đà. Dù vậy, các nhà lãnh đạo Trung Quốc hiện mới là những người nắm quân bài trong tay. Việc xoay trục vốn để neo giữ vai trò lãnh đạo của Mỹ ở Châu Á; sự tan rã của nó có thể để lại cho Trung Quốc quyền thiết lập luật chơi.

Ba trụ cột

Khi giới thiệu chiến lược xoay trục, chính quyền Obama đã phác thảo ba trụ cột mà việc tái cân bằng dựa trên: an ninh, thịnh vượng và quản trị tốt. Logic cốt lõi là việc thúc đẩy cả ba sẽ làm cho các đối tác châu Á của Mỹ mạnh hơn, có khả năng bảo vệ chủ quyền tốt hơn, từ đó ngăn chặn Trung Quốc lật đổ trật tự khu vực. Tuy nhiên, trên thực tế, chỉ có trụ cột an ninh nhận được sự chú ý và nguồn lực liên tục từ Mỹ. Washington đã thắt chặt liên minh với Úc, Nhật Bản, Philippines và Hàn Quốc, đồng thời cam kết chuyển 60% khí tài của Hải quân Mỹ sang Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Nhưng họ chưa bao giờ thực hiện được tầm nhìn về can dự kinh tế hoặc quản trị tốt.

Ban đầu, Mỹ đã có kế hoạch can dự vào kinh tế khu vực. Chính quyền Obama đã thúc đẩy Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), một thỏa thuận thương mại gồm 12 quốc gia bao gồm nhiều đối tác khu vực quan trọng nhất của Washington. Mục tiêu cốt lõi, theo cách nói của ông Obama, là nhằm thiết lập và tôn vinh “một hệ thống kinh tế quốc tế mở, nơi các quy tắc luôn minh bạch và mọi quốc gia đều phải tuân thủ cuộc chơi chung đó”. Nhưng Mỹ đã chứng tỏ họ không sẵn lòng bị ràng buộc bởi chính những quy tắc mà họ đã giúp soạn thảo. Thượng viện từ chối phê chuẩn TPP vào cuối nhiệm kỳ của Obama, và sau đó chính quyền Trump đầu tiên đã rút khỏi thỏa thuận vào năm 2017 và bắt đầu áp thuế lên hàng hóa Trung Quốc. Chính quyền Biden cũng không thay đổi lộ trình bao nhiêu. Họ giữ nguyên hầu hết các mức thuế của Trump và không mặn mà với việc gia nhập hiệp định kế nhiệm TPP. Một sự thay thế dự kiến được đưa ra vào năm 2022, Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương vì sự Thịnh vượng (IPEF), đã không mang lại khả năng tiếp cận thị trường Mỹ rộng mở hơn, gây thất vọng cho các đối tác nước ngoài. Như đại sứ Singapore tại Mỹ đã than phiền vào năm 2023: “Chúng tôi không nhận được loại chương trình nghị sự thương mại mà chúng tôi mong muốn” từ chính quyền Biden.

Trong nhiệm kỳ thứ hai của Trump, các chính sách kinh tế mang tính cưỡng ép và bảo hộ, kết hợp với việc giải thể các chương trình viện trợ phát triển và hỗ trợ nhân đạo, đã làm tình hình tồi tệ hơn. Đối với các nhà lãnh đạo Châu Á muốn mang lại tăng trưởng kinh tế cho người dân, một nước Mỹ bảo hộ hơn sẽ kém hấp dẫn hơn trong tư cách là đối tác — và Trung Quốc trông có vẻ hấp dẫn hơn khi đem ra so sánh. Các quan chức Châu Á thường nói rằng họ “không muốn chọn phe” giữa Washington và Bắc Kinh. Nhưng các nhà lãnh đạo khu vực lo ngại rằng, khi nói đến quan hệ kinh tế, các lựa chọn đang trở nên không thể tránh khỏi, và nhiều người có thể nghiêng về Trung Quốc.

Trụ cột quản trị của việc xoay trục thậm chí còn sụp đổ thảm hại hơn. Dân chủ, chống tham nhũng và nhân quyền là những yếu tố quan trọng của chương trình nghị sự này khi mới được công bố. Cả hai chính quyền Obama và Biden đều đặt việc thúc đẩy dân chủ và nhân quyền vào vị trí trung tâm trong các chính sách của mình, khi coi đó vừa là nghĩa vụ đạo đức, vừa là yêu cầu chiến lược bắt buộc. Điều này gây ra sự hoài nghi trên khắp Châu Á, nơi chưa đến một nửa dân số sống trong các xã hội tự do. Khi chính quyền Biden tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh vì Dân chủ năm 2021, họ đã loại trừ Bangladesh, Bhutan, Brunei, Campuchia, Lào, Myanmar, Singapore, Sri Lanka, Thái Lan và Việt Nam. Sự bỏ sót này đã đẩy nhiều chính phủ Nam và Đông Nam Á vào thế phòng thủ, lo ngại Mỹ đang phá hoại hệ thống chính trị trong nước của họ.

Chính quyền Trump nhiệm kỳ hai đã giữ im lặng về nhân quyền và dân chủ, điều này làm yên lòng một số nhà lãnh đạo chuyên chế. Tuy nhiên, nhiều nhà lãnh đạo khu vực cảm thấy lo ngại khi Mỹ hiện đang bác bỏ nhiều quy tắc, chuẩn mực và định chế mà họ từng thúc đẩy như một phần của sáng kiến quản trị tốt. Washington đang sử dụng biện pháp cưỡng ép kinh tế đối với ngay cả các đồng minh và đối tác của mình. Họ đã thực hiện các cuộc tấn công quân sự chống lại Iran và Venezuela, điều mà nhiều quốc gia Châu Á nhỏ lo ngại sẽ được xem là một tiền lệ nguy hiểm mà Trung Quốc hoặc các cường quốc khác có thể sử dụng để biện minh cho các cuộc tấn công nhắm vào các nước láng giềng yếu hơn. Cuối cùng, các nỗ lực chống tham nhũng của Mỹ đã bị đình trệ khi Trump tạm dừng việc thực thi Đạo luật Chống tham nhũng tại nước ngoài (FCPA) ngay sau khi nhậm chức năm 2025. Các quốc gia hiện đang hỗ trợ các dự án thương mại lớn liên quan đến gia đình Trump với hy vọng nhận được sự ưu ái từ chính phủ Mỹ.

Không ngạc nhiên khi danh tiếng của Washington bị tổn hại nghiêm trọng khắp Châu Á. Theo một cuộc khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Pew vào năm 2025 được thực hiện trong những tháng đầu nhiệm kỳ thứ hai của ông Trump, mức độ thiện cảm dành cho Mỹ tại Úc, Indonesia, Nhật Bản và Hàn Quốc đã sụt giảm từ 9 đến 16 điểm phần trăm so với một năm trước đó. Nếu Mỹ tiếp tục lạm dụng quyền lực và các biện pháp cưỡng ép—gạt bỏ những quy tắc, chuẩn mực và định chế vốn từng trói buộc quyền hạn của Mỹ nhưng lại mang về cho họ tầm ảnh hưởng—thì mức độ tín nhiệm của quốc gia này sẽ còn trượt dài, và các nước khác sẽ càng ít mặn mà với việc đi theo sự dẫn dắt của Washington.

Xoay trục trong chiến lược xoay trục

Khi các chương trình nghị sự về kinh tế và quản trị sụp đổ, toàn bộ trọng trách của việc tái cân bằng đã dồn lên trụ cột an ninh. Tuy nhiên, ngay cả về an ninh, Washington cũng không thực hiện được tất cả những gì đã hứa ban đầu. Mỹ vẫn bị phân tâm bởi các cuộc khủng hoảng ở những nơi khác trên thế giới. Họ chưa bao giờ thực sự rời bỏ Trung Đông, và chính quyền Biden, khi đối mặt với một cuộc chiến lớn ở Châu Âu, đã lựa chọn đúng đắn khi hỗ trợ Ukraine. Sự tập trung của chính quyền Trump vào châu Mỹ lại thêm một ưu tiên cạnh tranh khác. Kết quả là, các nhà lãnh đạo Mỹ chưa bao giờ có đủ thời gian để can dự nhất quán với Nam Á, Đông Nam Á và các đảo quốc Thái Bình Dương. Chỉ có Úc, Nhật Bản, Philippines, Hàn Quốc và Đài Loan là thu hút được sự chú ý và nguồn lực bền vững từ Mỹ.

Vấn đề càng trở nên tồi tệ hơn gần đây. Trong năm qua, các khí tài quân sự hàng đầu của Mỹ — các nhóm tàu sân bay tác chiến, các đơn vị phòng không và phòng thủ tên lửa — đã được rút khỏi Châu Á để hỗ trợ các nhiệm vụ khác. Việc tăng chi tiêu quốc phòng tổng thể gần đây của Mỹ chỉ vừa đủ bù đắp lạm phát, và ngay cả khi chính quyền Trump thành công trong việc ép buộc các đồng minh và đối tác chi tiêu nhiều hơn, sự đóng góp của họ cũng không thể bù đắp được các khoản chi khổng lồ của Trung Quốc. Hệ quả là, Washington không còn đủ phương tiện và nguồn lực để thực thi một cách tiếp cận mang tính bao quát trên toàn khu vực. Nhận ra sự hạn chế này, các nhà hoạch định chính sách Mỹ đã thắt chặt trọng tâm, tập trung ngoại giao và chiến lược phòng thủ vào eo biển Đài Loan, gây thiệt hại cho các khu vực khác. Sự thay đổi này rõ rệt nhất dưới thời chính quyền Trump, nhưng nó đã diễn ra được gần một thập kỷ.

Ảnh hưởng rõ thấy nhất là ở Nam Á. Trong hai thập kỷ, các quan chức Mỹ đã theo đuổi mối quan hệ sâu sắc hơn với Ấn Độ. Nhưng chính quyền Trump thứ hai đã phá hỏng phần lớn tiến trình này. Sự can thiệp của Mỹ vào cuộc xung đột tháng 5 năm 2025 giữa Ấn Độ và Pakistan đã tạo ra cảm giác rằng Trump ưu tiên Islamabad hơn New Delhi, và hệ lụy từ đó đã dập tắt hy vọng rằng Ấn Độ có thể đứng về phía Mỹ nhiều hơn. Nhóm Bộ Tứ (Quad) — quan hệ đối tác an ninh giữa Úc, Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ — từng nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ trong nhiệm kỳ đầu của Trump, nhưng giờ đây dường như đang trên bờ vực lỗi thời: một cuộc họp thượng đỉnh dự kiến năm 2025 đã không diễn ra do sự khó chịu lộ rõ của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi với Trump và sự thờ ơ của Trump đối với nhóm này.

Câu chuyện cũng không khá khẩm hơn ở Đông Nam Á hay các đảo quốc Thái Bình Dương. Trong nhiệm kỳ đầu tiên, Trump đã cải thiện đáng kể quan hệ với Philippines, Việt Nam và nhiều quốc gia đảo Thái Bình Dương. Ngày nay, liên minh hiệp ước Mỹ – Philippines vẫn mạnh mẽ, với các cuộc gặp song phương thường xuyên và hợp tác quốc phòng sâu sắc. Tuy nhiên, các quốc gia Đông Nam Á khác, bao gồm Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Singapore, đang đánh giá lại chính sách của họ đối với Mỹ. Thủ tướng Singapore đã than phiền rằng Mỹ “đang từ bỏ chính hệ thống mà họ đã tạo ra” bằng cách áp dụng các chính sách bảo hộ và áp thuế lên các nước đồng minh. Quan điểm này cũng được nhiều đảo quốc Thái Bình Dương chia sẻ, khi việc Washington hạ thấp các vấn đề quan trọng với họ — bao gồm phát triển, y tế công cộng và biến đổi khí hậu — đang thúc đẩy sự hợp tác chặt chẽ hơn với Bắc Kinh.

Tiểu vùng duy nhất mà Mỹ dường như cam kết là Đông Bắc Á, nơi có mối lo ngại an ninh hàng đầu của Washington: Trung Quốc. Trong Chiến lược An ninh Quốc gia 2025, Trung Quốc được nhắc đến nhiều hơn bất kỳ đối thủ nào khác của Mỹ, và Đài Loan được nhắc đến nhiều hơn bất kỳ đồng minh hay đối tác nào khác. Phần về răn đe các mối đe dọa quân sự ở Châu Á hầu như chỉ tập trung vào việc ngăn chặn một cuộc tấn công vào Đài Loan; Triều Tiên không được nhắc đến lấy một lần. Trên thực tế, Mỹ đã thu hẹp quan niệm về lợi ích an ninh của mình ở Châu Á vào an ninh xuyên eo biển.

Tuy nhiên, ngay cả chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc và Đài Loan vẫn còn mơ hồ. Trump khẳng định rằng nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ không đánh Đài Loan dưới thời của mình, và chính quyền của ông đã ép các đồng minh khu vực cho phép lực lượng Mỹ sử dụng lãnh thổ của họ và đóng góp lực lượng riêng nếu xung đột nổ ra ở eo biển Đài Loan. Nhưng bản thân Trump chưa bao giờ công khai tuyên bố ông sẽ làm gì trong một cuộc xung đột xuyên eo biển, thay vào đó ông nhận định vào tháng 1 rằng việc xử lý Đài Loan như thế nào là “tùy thuộc vào ông Tập”. Ông thậm chí còn gọi mối quan hệ Mỹ – Trung là “G-2”, cho thấy ông quan tâm đến một loại thỏa thuận giữa các siêu cường.

Logic cơ bản của việc xoay trục là Mỹ có lợi khi giúp xây dựng các nền kinh tế mạnh, các chính phủ hiệu quả và quân đội có năng lực trên khắp Châu Á vì điều này sẽ khiến Trung Quốc khó lật đổ trật tự khu vực bằng cách cưỡng ép hoặc sử dụng vũ lực. Các nước Châu Á khi đó sẽ tự do đưa ra những lựa chọn mang lại lợi ích lớn nhất cho họ, điều mà Washington giả định là việc tiếp tục hợp tác với Mỹ. Nhưng với cả ba trụ cột đều bị rạn nứt hoặc sụp đổ, những hạn chế mà các nhà hoạch định chính sách Mỹ cố gắng đặt lên ảnh hưởng khu vực của Trung Quốc đang dần biến mất.

Tìm kiếm kế hoạch dự phòng

Khi sự can dự về kinh tế và chính trị của Washington ngày càng thoái trào mà không có dấu hiệu xoay chuyển, thì răn đe quân sự chính là quân bài cuối cùng còn sót lại trong chiến lược của Mỹ tại Châu Á. Nhưng cách tiếp cận truyền thống của Mỹ đối với an ninh khu vực, vốn đã bị suy yếu, đang ngày càng đối mặt với nguy hiểm. Mục tiêu ban đầu là ngăn chặn Trung Quốc thay đổi hiện trạng lãnh thổ ở bất cứ đâu trong khu vực, điều đòi hỏi Mỹ phải duy trì một vành đai phòng thủ tiền phương tới sát bờ biển lục địa Châu Á. Washington hướng tới mục đích giúp các đồng minh và đối tác có tranh chấp lãnh thổ hoặc hàng hải với Bắc Kinh hoặc Bình Nhưỡng — bao gồm Ấn Độ, Nhật Bản, Philippines, Đài Loan và Việt Nam — để răn đe việc sử dụng vũ lực hoặc biện pháp cưỡng ép. Mỹ thường xuyên gửi tàu và máy bay đến sát bờ biển Trung Quốc nhằm ngăn chặn Bắc Kinh gây áp lực lên các nước bạn của Washington hoặc kiểm soát các vùng lãnh thổ, vùng nước và vùng trời đang tranh chấp. Họ cũng đầu tư vào quân đội khu vực để đảm bảo các nước này có thể tự vệ tốt hơn và phối hợp chặt chẽ hơn với lực lượng Mỹ. Và khi lợi thế quân sự của Mỹ bị xói mòn, Mỹ đã kêu gọi các đồng minh Châu Á tăng chi tiêu quốc phòng và tiếp nhận thêm lực lượng Mỹ trên lãnh thổ của mình.

Vấn đề chính của cách tiếp cận này là nó không chỉ đòi hỏi sự can dự quân sự của Mỹ mà còn cần một chương trình nghị sự tích cực về kinh tế và quản trị để thành công. Xây dựng quân đội hiệu quả đòi hỏi nền kinh tế năng động và chính phủ hiệu quả, và chỉ có một mạng lưới quân đội khu vực mạnh mới có thể giúp các quốc gia nhỏ hơn bảo vệ lợi ích của họ trước Trung Quốc. Nếu không có sự hỗ trợ ổn định của Mỹ cho tăng trưởng kinh tế, quản trị tốt và hội nhập khu vực, toàn bộ thế trận răn đe của khu vực sẽ bị ảnh hưởng. Tệ hơn nữa, một nhóm người chỉ trích ngày càng đông tại Washington cho rằng Mỹ không còn đủ mạnh để thực hiện một chiến lược sâu rộng như vậy, rằng chiến lược này mang tính khiêu khích không cần thiết đối với Bắc Kinh, và quá ít quốc gia trong khu vực sẵn lòng hoặc có khả năng tăng cường hợp tác quân sự với Mỹ. Những người khác nhấn mạnh rằng người dân Mỹ đã mệt mỏi với những sự can thiệp ở nước ngoài và không sẵn lòng ủng hộ việc tăng chi tiêu quân sự mà chiến lược này đòi hỏi.

Nói ngắn gọn, việc đạt được phiên bản tham vọng nhất của các mục tiêu an ninh Mỹ ở Châu Á đã trở nên phi thực tế. Khoảng cách giữa các mục tiêu đó và năng lực của Mỹ cùng đồng minh là điều ai cũng thấy rõ, kể cả Trung Quốc. Và Bắc Kinh đã quá sẵn lòng để tận dụng điều này. Bất chấp sự phản đối lâu nay của Mỹ đối với việc Trung Quốc bồi đắp đảo ở Biển Đông, Bắc Kinh đã khởi động lại chiến dịch xây đảo tại đó. Họ cũng đang gia tăng áp lực quân sự đối với Đài Loan, làm tăng nguy cơ xảy ra một cuộc khủng hoảng xuyên eo biển. Chiến lược răn đe đang bị xói mòn trên toàn khu vực, làm trầm trọng thêm nguy cơ xảy ra một cuộc chiến lớn trong những năm tới.

Để tránh kết cục đó, Mỹ cần phải điều chỉnh các cam kết và năng lực của mình cho khớp nhau. Tuy nhiên, việc đẩy sự thoái lui đi quá xa cũng ẩn chứa nhiều hiểm họa, chẳng hạn như việc co cụm các tuyến phòng thủ của Mỹ dọc theo chuỗi đảo thứ hai, cách lục địa Trung Quốc hàng ngàn dặm về phía Đông (hoặc thậm chí là lùi về tận chuỗi đảo thứ ba, nơi bao gồm cả Hawaii). Trong kịch bản này, Úc và Nhật Bản, các đồng minh lâu đời của Mỹ nằm ở hai đầu Nam và Bắc của chuỗi đảo thứ hai, vẫn có thể neo giữ sự hiện diện quân sự khu vực của Mỹ. Nằm giữa hai quốc gia này, tuyến phòng thủ sẽ bao gồm vô số đảo nhỏ trải dài hàng ngàn dặm, từ quần đảo Bonin, quần đảo Mariana (với tâm điểm là đảo Guam), cho đến Yap và Palau. Chiến lược này sẽ gạt bỏ nhiều quốc gia đồng minh tại Đông Á ra khỏi vành đai phòng thủ của Mỹ—như Philippines, Hàn Quốc và Đài Loan—điều này đồng nghĩa với việc Mỹ mặc nhiên thừa nhận sẽ không đứng ra bảo vệ họ nếu một cuộc tấn công nổ ra.

Chiến lược chuỗi đảo thứ hai sẽ đẩy nhiều nhà lãnh đạo Châu Á đến việc ký kết các thỏa thuận với Bắc Kinh. Toàn bộ Đông Nam Á sẽ nằm trong vùng ảnh hưởng của Trung Quốc, vì vậy Philippines và các bên tranh chấp khác ven Biển Đông sẽ có rất ít hy vọng bảo vệ quyền lợi của mình ở các vùng biển tranh chấp. Hàn Quốc sẽ thấy mình bị cô lập và bao quanh bởi các cường quốc hạt nhân là Trung Quốc, Triều Tiên và Nga; nếu không có chiến lược răn đe hạt nhân mở rộng của Mỹ, Seoul sẽ phải chọn giữa việc tự trang bị vũ khí hạt nhân hoặc khuất phục trước các yêu sách từ Bình Nhưỡng và Bắc Kinh. Đài Loan, quốc gia mà Trung Quốc sẽ không bao giờ cho phép có vũ khí hạt nhân, có khả năng sẽ bị buộc phải thống nhất với đại lục hoặc đối mặt với một cuộc chiến không thể thắng.

Cũng không có gì đảm bảo rằng Trung Quốc sẽ thỏa mãn với sự rút lui này của Mỹ. Có khả năng một Bắc Kinh mạnh hơn, tự tin hơn sẽ mở rộng lãnh thổ của mình để tương xứng với năng lực ngày càng tăng. Khi đó, Nhật Bản có thể đặc biệt dễ bị tổn thương. Bắc Kinh vốn đã tranh chấp các yêu sách pháp lý của Nhật Bản đối với Okinawa và các phần khác của chuỗi đảo Ryukyu. Đảo cực Tây của Nhật Bản, Yonaguni, chỉ cách Đài Loan 70 dặm, vì vậy việc bảo vệ nó và các hòn đảo lân cận bằng vũ khí thông thường sẽ rất khó khăn, thậm chí là không thể, nếu lực lượng Trung Quốc đồn trú tại Đài Loan. Mỹ có thể đe dọa leo thang hạt nhân để răn đe sự xâm lấn của Trung Quốc, nhưng lời đe dọa đó có vẻ không đáng tin giữa một cuộc rút lui khu vực rộng lớn hơn. Nhật Bản khi đó có thể quyết định tự mình trang bị vũ khí hạt nhân hoặc ít nhất là đạt được một thỏa thuận chia sẻ hạt nhân với Mỹ để bảo vệ lãnh thổ của mình một cách đáng tin cậy hơn.

Đặc điểm địa lý của chuỗi đảo thứ hai còn đặt ra một vấn đề nan giải cuối cùng. Những hòn đảo nhỏ, xa xôi này và các cơ sở đồn trú sẽ dễ bị tấn công bởi các cuộc không kích của Trung Quốc và bị ảnh hưởng chính trị. Nếu không có các cơ sở ở Philippines và Đài Loan để theo dõi lực lượng không quân và hải quân Trung Quốc đi qua chuỗi đảo thứ nhất, sẽ khó phát hiện các lực lượng này trước khi họ tiếp cận Guam hoặc các lãnh thổ khác thuộc chuỗi đảo thứ hai. Thêm vào đó, các nhà lãnh đạo ở một số đảo Thái Bình Dương có thể muốn giữ trung lập và chấp nhận các lời đề nghị đầu tư của Trung Quốc thay vì cho phép Mỹ hoạt động từ lãnh thổ của họ. Điều này đã là một mối lo ngại ở Yap, nơi các công ty Trung Quốc đang xây dựng lại một sân bay từ thời Thế chiến II. Chính vì thế, một tuyến phòng thủ tại chuỗi đảo thứ hai trông sẽ giống như một tập hợp các bong bóng tự vệ rời rạc hơn là một vành đai phòng thủ toàn diện và vững chắc. Cuối cùng, chiến lược tối thiểu này có thể không bảo vệ được các lãnh thổ của Mỹ ở Thái Bình Dương và có thể khiến ngay cả những đồng minh có năng lực nhất của Mỹ cảm thấy họ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phục tùng vùng ảnh hưởng rộng lớn của Trung Quốc.

Tóm lại, việc rút lui về chuỗi đảo thứ hai có thể dẫn đến thảm họa. Do đó, lựa chọn thực tế hơn là Mỹ rút lui về chuỗi đảo thứ nhất. Cách tiếp cận này sẽ cắt giảm các cam kết của Mỹ trong khi vẫn giữ lại một số đồng minh và đối tác có năng lực nhất, bao gồm Nhật Bản, Đài Loan và Philippines. Mỹ có khả năng sẽ duy trì sự hiện diện tại Úc và Hàn Quốc, do các liên minh lâu đời với cả hai nước và mong muốn tránh bỏ rơi các đồng minh quan trọng khỏi vành đai phòng thủ — một sai lầm đắt giá mà Washington đã mắc phải trước Chiến tranh Triều Tiên. Nhưng nó sẽ loại bỏ hầu hết phần còn lại của khu vực khỏi danh sách ưu tiên của Mỹ, bao gồm cả đồng minh hiệp ước Thái Lan và cường quốc đang lên là Ấn Độ. Trên thực tế, điều này có thể đồng nghĩa với việc, ví dụ, hủy bỏ liên minh của Mỹ với Thái Lan và tuyên bố rõ ràng rằng Mỹ sẽ không can thiệp nếu Trung Quốc xâm lấn lãnh thổ hoặc các yêu sách hàng hải của các đối tác trên lục địa Châu Á.

Chiến lược này vẫn đối mặt với một số thách thức. Thứ nhất, không rõ các nhà lãnh đạo Mỹ có sẵn lòng dành nguồn lực mà chiến lược này yêu cầu hay không. Mặc dù Trump đã bóng gió về một ngân sách quốc phòng 1.500 tỷ USD cho năm 2027, rất ít người ở Quốc hội có vẻ nghiêng về việc ủng hộ mức tăng tới 50% chi tiêu quốc phòng. Mỹ vẫn sẽ có các cam kết dọc theo chuỗi đảo thứ nhất, bao gồm cả với Philippines và Đài Loan, cả hai đều không thể răn đe Trung Quốc nếu thiếu sự hỗ trợ đáng kể từ Mỹ. Do đó, việc tăng thêm chi tiêu quốc phòng, hoặc ít nhất là tái triển khai quân từ các khu vực khác, có thể là cần thiết. Suy cho cùng, Trung Quốc có thể tập trung phần lớn sức mạnh quân sự vào các vùng biển gần, trong khi Châu Á vẫn chỉ là một trong nhiều khu vực hoạt động của quân đội Mỹ. Nếu Bắc Kinh sở hữu 9 tàu sân bay vào năm 2035 như một báo cáo gần đây của Lầu Năm Góc dự đoán, lực lượng Mỹ sẽ bị áp đảo về số lượng, ngay cả khi Washington cắt giảm chi tiêu ở những nơi khác.

Hơn nữa, chiến lược chuỗi đảo thứ nhất sẽ đòi hỏi các đồng minh và đối tác chủ chốt phải tăng cường hợp tác với Washington trong khi Mỹ rút lui ở những nơi khác. Mỹ đơn giản là không thể cân bằng sức mạnh quân sự của Trung Quốc trừ khi Úc, Nhật Bản, Philippines, Hàn Quốc và Đài Loan chi tiêu nhiều hơn cho quốc phòng, cho phép lực lượng Mỹ tiếp cận lãnh thổ của họ nhiều hơn, hoặc cả hai. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo của họ có thể dè chừng nếu thấy cam kết tổng thể đối với các liên minh của Mỹ đang suy giảm; một số thậm chí có thể cân nhắc liệu cải thiện quan hệ với Bắc Kinh có khôn ngoan hơn là nhượng bộ các yêu cầu của Washington hay không. Vấn đề này càng phức tạp hơn bởi sự chia rẽ trong nước ở Philippines, Hàn Quốc và Đài Loan. Các đảng phái chính trị ở mỗi nước có cách tiếp cận chính sách đối ngoại rất khác nhau, vì vậy sự thay đổi chính phủ thường kéo theo các cuộc tái đánh giá chiến lược. Mỹ càng bị coi là khó đoán và có tính áp đặt, áp lực lên một nhà lãnh đạo mới trong việc thay đổi lộ trình sẽ càng lớn. Và khi ảnh hưởng kinh tế và chính trị của Bắc Kinh tăng lên, Washington sẽ càng khó đối phó với các nỗ lực của Trung Quốc nhằm tác động đến quá trình ra quyết định ở Manila, Seoul và Đài Bắc.

Chiến lược này cũng chẳng thể làm nản lòng phần còn lại của khu vực trong việc thắt chặt quan hệ với Trung Quốc, bởi lẽ nó không giúp Mỹ trở nên hấp dẫn hơn với tư cách là một thị trường xuất khẩu, cũng như không khiến Washington năng nổ hơn trên phương diện ngoại giao. Thái Lan đã và đang thắt chặt các mối quan hệ kinh tế và quân sự với Bắc Kinh. Nếu những nước khác, như Ấn Độ, Indonesia, Malaysia và Singapore, cũng chọn hợp tác chặt chẽ hơn với Trung Quốc, Mỹ có thể buộc phải đứng ngoài cuộc nhìn Bắc Kinh xây dựng một vùng ảnh hưởng bao trùm phần lớn lục địa Châu Á và cả một phần lãnh hải — khiến việc phòng thủ chuỗi đảo thứ nhất ngày càng khó duy trì.

Những lựa chọn khó khăn

Dù lựa chọn rút lui về chuỗi đảo thứ nhất có nhiều khiếm khuyết, nhưng đó là kết quả có khả năng xảy ra nhất trong những năm tới. Thách thức sẽ là củng cố ranh giới phòng thủ mỏng manh này càng nhiều càng tốt để duy trì chiến lược răn đe lâu nhất có thể. Các đồng minh và đối tác dọc theo chuỗi đảo đó sẽ cần phải đủ mạnh và tự tin để hợp tác với Mỹ nhằm đối trọng với Trung Quốc, ngay cả khi thiếu vắng một chiến lược kinh tế và chính trị của Mỹ trong khu vực. Do đó, điều quyết định thành công không chỉ là Washington cung cấp nguồn lực tốt như thế nào cho thế trận quân sự mà còn là cách họ định hướng các vấn đề địa chính trị phức tạp của khu vực.

Các nhà hoạch định chính sách Mỹ sẽ cần quyết định xem liệu Mỹ có thể xây dựng một mạng lưới liên kết các liên minh an ninh hay chỉ để các mối quan hệ đối tác phòng thủ riêng lẻ rải rác là đủ. Chính quyền Biden đã khuyến khích các đồng minh và đối tác ở Châu Á hợp tác chặt chẽ hơn với nhau, trong khi chính quyền Trump đôi khi thích cách tiếp cận song phương vì nó tối đa hóa đòn bẩy của Mỹ. Ngay cả một sự dàn xếp không chính thức nhằm đưa các đồng minh của Mỹ lại gần nhau cũng đòi hỏi một sự đầu tư đáng kể về thời gian và nguồn lực từ Washington và các nước trong khu vực. Một số quốc gia chắc chắn sẽ vẫn ngần ngại hợp tác với nhau vì những căng thẳng lịch sử, những hạn chế pháp lý đối với việc can dự quân sự nước ngoài, nỗi sợ bị kéo vào các cuộc xung đột của nước khác, và những lo ngại về phản ứng của Trung Quốc. Tuy nhiên, nếu không có sự hợp tác sâu rộng hơn trong ngành công nghiệp quốc phòng và khả năng tích hợp tác chiến giữa quân đội các nước, có thể không xây dựng được một hệ thống phòng thủ đủ mạnh dọc theo chuỗi đảo thứ nhất.

Mỹ cũng sẽ phải quyết định cách xử lý mối quan tâm của các đồng minh trong việc sở hữu vũ khí hạt nhân — một điều mà cho đến nay họ vẫn phản đối. Nếu Mỹ hủy bỏ một số cam kết và rút bớt một phần lực lượng thông thường, khả năng phổ biến hạt nhân giữa các đồng minh sẽ tăng lên. Đặc biệt, Nhật Bản và Hàn Quốc có thể theo đuổi năng lực răn đe hạt nhân của riêng mình nếu họ nhận thấy sự răn đe mở rộng của Mỹ đang yếu đi. Việc chỉ đơn thuần bác bỏ các cuộc thảo luận về hạt nhân có thể không làm giảm bớt sự quan tâm, đặc biệt là ở Seoul, nơi bị bao quanh bởi các quốc gia có vũ khí hạt nhân. Thậm chí, một số người ở Washington có thể hoan nghênh sự phổ biến hạt nhân của đồng minh để bù đắp cho sự mất cân bằng quân sự thông thường đang tồi tệ đi, từ đó răn đe sự xâm lấn của Trung Quốc hoặc Triều Tiên. Một lựa chọn cần xem xét nghiêm túc là phát triển các thỏa thuận chia sẻ hạt nhân, điều có thể trấn an các đồng minh Châu Á mà không dẫn đến sự phổ biến hạt nhân khu vực hoặc toàn cầu một cách đáng kể.

Khi Washington rút lui, Bắc Kinh có khả năng sẽ thách thức các vị trí còn lại của Mỹ, đặt ra câu hỏi về việc Washington sẵn lòng và không sẵn lòng bảo vệ điều gì. Các lực lượng Trung Quốc đã và đang tiến sát hơn đến Đài Loan và hoạt động thường xuyên hơn với số lượng lớn hơn quanh Nhật Bản, Philippines và tiến xa hơn vào Tây Thái Bình Dương. Cho đến nay, Mỹ đã tuyên bố rõ ràng nhất về những gì họ sẽ làm để bảo vệ các đồng minh thân cận nhất nhưng lại mơ hồ khi nói đến việc phòng thủ cho các đối tác khác. Những đồng minh mà Washington yêu cầu phải làm nhiều hơn có khả năng sẽ đòi hỏi những cam kết rõ ràng hơn từ phía Mỹ để đổi lại. Sự rõ ràng như vậy có thể ngăn chặn những phép thử nguy hiểm nhắm vào các cam kết này, nhưng đồng thời nó cũng kéo theo không ít rủi ro. Việc xóa bỏ sự mơ hồ về những gì Mỹ coi là nằm trong phạm vi phòng thủ của mình — đặc biệt là khi nói đến các hòn đảo xa xôi đang tranh chấp, vốn khó phòng thủ hơn — sẽ đòi hỏi phải phản ứng mạnh mẽ hơn trước bất kỳ sự vi phạm nào để duy trì sự răn đe. Trong những trường hợp mà Mỹ thực sự sẵn lòng leo thang, rõ ràng thường là chính sách tốt nhất, nhưng điều đó có nghĩa là những cam kết mơ hồ hơn có khả năng sẽ gặp thử thách.

Cuối cùng, Mỹ sẽ cần quyết định xem nên rút lui đột ngột hay dần dần. Việc rút lui chậm rãi có thể ngăn chặn sự hoảng loạn tức thì, nhưng lại khiến tất cả các đồng minh và đối tác luôn sống trong nỗi sợ hãi rằng mình có thể là người tiếp theo lên thớt; trái lại, một sự điều chỉnh nhanh chóng có thể tránh được một cú trượt chân kéo dài, nhưng lại gây ra sự bất ổn ngay lập tức nếu các đồng minh và đối tác không có đủ thời gian để chuẩn bị. Dù bằng cách nào, Washington cũng sẽ cần thiết lập lại kỳ vọng của các đồng minh về các chính sách tương lai của Mỹ, khiến một số xáo trộn là không thể tránh khỏi. Nhưng một sự thay đổi một lần trong vị thế phòng thủ của Mỹ có thể tốt hơn là những lời nhắc nhở lặp đi lặp lại rằng Mỹ đang thay đổi thế trận. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo đồng minh phải được tham vấn kín đáo trước đó để họ có thể điều chỉnh chiến lược của riêng mình và bày tỏ sự tin tưởng về cách tiếp cận mới với công chúng của họ.

Sẽ tốt hơn nhiều nếu Mỹ cung cấp đầy đủ nguồn lực cho một chiến lược bao gồm can dự kinh tế sâu rộng và hỗ trợ quản trị tốt bên cạnh một thế trận an ninh mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, việc băn khoăn liệu phiên bản đó của chiến lược xoay trục sang Châu Á có thành công hay không giờ đây chỉ là vấn đề lý thuyết. Một cuộc xoay trục dang dở, với các mục tiêu an ninh sâu rộng nhưng không có chiến lược kinh tế hay quản trị đáng kể nào, chắc chắn sẽ không thành công. Thay vào đó, nó sẽ có nguy cơ — trên thực tế, nó vốn dĩ đang có nguy cơ — dẫn đến một sự thất bại thảm khốc của khả năng răn đe. Từ bỏ việc xoay trục và chấp nhận sự rút lui không phải là cách tốt nhất để bảo vệ lợi ích của Mỹ ở Châu Á. Nhưng đó là điều không thể tránh khỏi.

Vào năm 2024, ông Kishida Fumio, khi đó là Thủ tướng Nhật Bản, đã phát biểu trước Quốc hội Mỹ rằng ông nhận thấy “một luồng tư tưởng tự hoài nghi đang âm ỉ trong một bộ phận người Mỹ về việc vai trò của [Mỹ] trên thế giới nên như thế nào”. Ngày nay, luồng tư tưởng đó trông giống một trận sóng thần hơn, và các quốc gia ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đã và đang tìm kiếm vùng đất cao hơn để trú ẩn. Những gì còn lại sau cuộc thoái trào này—nơi nào Mỹ tiếp tục duy trì cam kết, và nơi nào họ quyết định rút lui—sẽ tác động trực tiếp đến vận mệnh của hàng trăm triệu người dân tại Châu Á. Do đó, đã đến lúc người Mỹ thảo luận không phải về việc một chiến lược lý tưởng sẽ như thế nào, mà là cách thực hiện một chiến lược thực tế. Thậm chí điều đó có thể là không đủ để kiềm chế ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc. Nhưng sau khi không đạt được những tham vọng lớn lao ở Châu Á, Mỹ đã không còn lựa chọn nào khác.

ZACK COOPER là Chuyên gia nghiên cứu cao cấp tại Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI) và là Giảng viên tại Đại học Princeton. Trong giai đoạn từ năm 2005 đến 2008, ông từng công tác tại Bộ Quốc phòng Mỹ và Hội đồng An ninh Quốc gia. Ông là tác giả của cuốn Tides of Fortune: The Rise and Decline of Great Militaries (tạm dịch: Thủy triều vận mệnh: Sự trỗi dậy và suy tàn của các quân đội hùng mạnh).

Related posts