Đất hiếm biển sâu: Nhật Bản lại đánh cược để tự chủ tài nguyên?

Nguồn: Trần Hồng Bân, 陈鸿斌:日本这就实现“稀土自由”了?, Guancha, 09/02/2026.

Biên dịch: Lê Thị Thanh Loan

“Không chỉ thế hệ chúng ta, mà ngay cả thế hệ mai sau cũng sẽ không còn phải khốn đốn vì đất hiếm nữa!”

Vào ngày 4/2, trong bài diễn thuyết vận động tranh cử tại tỉnh Okayama, bà Sanae Takaichi đã tự hào tuyên bố: “Cảm tạ trời đất, kể từ đầu tháng 2, cuối cùng thì chúng ta cũng nhận được tin tốt về đất hiếm. Tàu thăm dò của Nhật Bản cuối cùng đã khai thác được lớp bùn chứa đất hiếm từ độ sâu 6.000 mét dưới đáy biển gần đảo Minami Tori-shima.”

Tuy nhiên, tuyên bố đắc thắng này đã nhanh chóng bị “dội một gáo nước lạnh”. Ngày hôm sau, tại cuộc họp báo thường nhật của chính phủ Nhật Bản, khi phóng viên hỏi liệu có cơ sở nào cho tuyên bố này hay không, Phó Chánh Văn phòng Nội các Kei Sato đã khẳng định rõ rằng: “Đó là quan điểm ​​cá nhân của bà Sanae Takaichi với tư cách là Chủ tịch Đảng Dân chủ Tự do, tôi không tiện thay mặt chính phủ đưa ra bình luận. Chúng tôi cho rằng, để đảm bảo nguồn cung đất hiếm ổn định, điều quan trọng là phải đẩy mạnh khai thác mỏ và tìm kiếm sự đa dạng hóa nguồn cung, đi kèm với đó là các hoạt động nghiên cứu và phát triển thiết yếu.”

Do không nhận được câu trả lời rõ ràng tại cuộc họp báo, các phóng viên tiếp tục liên hệ với văn phòng của bà Sanae Takaichi để xác minh, nhưng cho đến tận đêm khuya cùng ngày vẫn không nhận được phản hồi. Việc các phóng viên truy hỏi đến cùng như vậy là bởi họ cho rằng tuyên bố trên quá thiếu độ tin cậy.

Như chúng ta đã biết, đất hiếm là tên gọi chung của 17 nguyên tố kim loại và là một loại nguyên liệu vô cùng quan trọng. Nhờ các đặc tính quang học, từ tính và hóa học đặc biệt, những vật liệu này được mệnh danh là “vitamin của ngành công nghiệp”. Từ điện thoại thông minh, nhiều loại trang bị quốc phòng tiên tiến cho đến vô số loại máy móc chính xác, tất cả đều không thể thiếu nguồn tài nguyên chiến lược quan trọng này.

Trung Quốc là nhà sản xuất đất hiếm hàng đầu thế giới, với sản lượng năm 2024 chiếm tới 70% toàn cầu. Năm 2009, 93% lượng đất hiếm Nhật Bản cần đều nhập khẩu từ Trung Quốc, với khối lượng lên tới 21.000 tấn. Sau khi Trung Quốc và Nhật Bản xảy ra tranh chấp quần đảo Điếu Ngư năm 2010, Trung Quốc đã điều chỉnh chính sách xuất khẩu đất hiếm, động thái này đã gây ra cú sốc mạnh mẽ cho toàn bộ giới công nghiệp Nhật Bản. Sau hơn một thập kỷ nỗ lực đa dạng hóa nhập khẩu, ​​đến năm 2025, tỷ lệ đất hiếm Nhật Bản nhập khẩu từ Trung Quốc vẫn chiếm 66%, phần còn lại lần lượt đến từ Việt Nam (27%) và Thái Lan (7%). Năm 2022, lượng nhập khẩu đất hiếm của Nhật Bản đã giảm xuống còn 16.000 tấn (hiện chưa có dữ liệu cập nhật mới hơn).

Nhật Bản là quốc gia tiêu thụ đất hiếm lớn thứ ba thế giới, chỉ sau Trung Quốc và Mỹ, đặc biệt là trong các lĩnh vực sản xuất nam châm vĩnh cửu cao cấp, robot, xe hybrid và thiết bị điện tử. Do trong nước hoàn toàn không có nguồn tài nguyên này, Nhật Bản từ lâu đã phải dựa vào việc nhập khẩu nguyên liệu và sản phẩm đất hiếm từ Trung Quốc và Mỹ, đồng thời xây dựng hệ thống dự trữ chiến lược.

Theo tờ The Economist của Anh, từng có hai doanh nghiệp Nhật Bản liên thủ mua lại một lượng lớn cổ phần của Công ty Lynas Rare Earths (Australia), nhưng lô sản phẩm đất hiếm nặng đầu tiên của công ty này mãi đến tháng 10/2025 mới được vận chuyển đến Nhật Bản.

Nguyên liệu đất hiếm khai thác từ khu mỏ của Lynas Rare Earths chủ yếu được gia công tại Malaysia. Dữ liệu từ Ngân hàng Mizuho cho thấy, trong giai đoạn 2020-2024, giá các sản phẩm đất hiếm mà Malaysia xuất sang Nhật cao hơn đáng kể so với các sản phẩm tương tự từ những nước khác. Bài báo chỉ ra rằng, tuy các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm quân sự có thể sẵn sàng trả mức giá cao này, nhưng trong thị trường tiêu dùng cạnh tranh khốc liệt, các doanh nghiệp khác hoàn toàn không thể chấp nhận mức giá đắt đỏ như vậy.

Do trên lãnh thổ đất liền Nhật Bản gần như không thể tìm thấy trữ lượng đất hiếm, nên nước này sau đó đã tăng cường nỗ lực tìm kiếm khoáng sản ngoài khơi. Năm 2011, Giáo sư Yasuhiro Kato thuộc Khoa Kỹ thuật của Đại học Tokyo cuối cùng đã phát hiện ra các mỏ khoáng sản liên quan dưới đáy biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế của đảo Minami Tori-shima, cách Tokyo 1.900 km về phía Đông Nam. Năm 2013, lớp bùn tại đây được xác nhận chứa đất hiếm hàm lượng cao, và kết quả nghiên cứu này đã được công bố trên các tạp chí khoa học – kỹ thuật của Anh.

Nhóm nghiên cứu từ Đại học Tokyo ước tính rằng, trữ lượng đất hiếm tại đây lên tới 16 triệu tấn – con số mà về mặt lý thuyết đủ để cung cấp cho toàn thế giới trong hàng trăm năm. Kể từ đó, chính phủ Nhật Bản đã coi đây là một “dự án quốc gia”, từ đó huy động sự phối hợp giữa chính phủ, giới công nghiệp và các viện nghiên cứu, do Văn phòng Nội các và Cơ quan Khoa học và Công nghệ Biển – Trái Đất Nhật Bản (JAMSTEC) đảm trách, cũng như dốc toàn lực chuẩn bị cho việc khai thác thử nghiệm và chính thức triển khai từ tháng 1 năm nay.

Ngày 12/1, tàu thăm dò Chikyū của JAMSTEC khởi hành từ vịnh Shimizu thuộc tỉnh Shizuoka, đến khu vực tác nghiệp quanh đảo Minami Tori-shima vào ngày 17 và bắt đầu khai thác thử nghiệm từ ngày 30. Đến ngày 2/2, nhóm khai thác thông báo đã hút được lớp bùn nghi chứa đất hiếm từ độ sâu khoảng 5.700 m dưới đáy biển thông qua ống hút bùn.

Hoạt động khai thác thử nghiệm này chủ yếu nhằm kiểm tra hiệu năng của thiết bị khai thác và quy trình vận hành, cũng như kiểm chứng tính khả thi về mặt kỹ thuật của việc hút bùn từ đáy biển lên. Điều này mới chỉ chứng minh rằng, rằng chuỗi công đoạn – từ việc hạ ống hút bùn từ tàu Chikyū xuống đáy biển, làm mềm lớp bùn rồi hút lên tàu – là khả thi. Còn về việc liệu lớp bùn này có chứa hàm lượng đất hiếm như kỳ vọng hay không, sẽ phải đợi đến ngày 15 tháng này – khi con tàu quay trở về Nhật Bản – thì mới có thể xác nhận.

Ngay cả khi xác nhận được lớp bùn chứa đất hiếm, việc có thể tinh luyện được chúng hay không lại là một câu chuyện hoàn toàn khác. Hiện nay, có nhiều quốc gia sở hữu mỏ đất hiếm, nhưng số nước có năng lực tinh luyện chỉ đếm trên đầu ngón tay. Mỹ cũng sở hữu đất hiếm nhưng vẫn phải vận chuyển nguyên liệu sang Trung Quốc để tinh luyện. Việc Nhật Bản có năng lực này hay không vẫn là một dấu hỏi lớn.

Xa hơn nữa, dù Nhật Bản có tinh luyện thành công, thì khoảng cách vận chuyển dài và quy trình hút bùn từ biển sâu rồi tách nước biển đều đồng nghĩa với chi phí cực kỳ đắt đỏ. Việc đất hiếm tinh luyện theo cách này có tính khả thi về mặt kinh tế hay không vẫn là một dấu hỏi lớn, và rõ ràng là chi phí khai thác sẽ cao hơn đáng kể so với khai thác trên đất liền. Ngoài ra, việc liệu Nhật Bản có đủ năng lực hút khối lượng lớn bùn từ đáy biển, tách nước rồi vận chuyển về đất liền hay không vẫn chưa được kiểm chứng. Khả năng bùn gây tắc nghẽn ống hút là không hề nhỏ.

Hoạt động khai thác thử nghiệm chính thức sẽ bắt đầu vào tháng 2 năm sau, với kế hoạch khai thác tối đa 350 tấn bùn mỗi ngày. Chỉ sau khi xác nhận được hiệu quả kinh tế đủ lớn, các doanh nghiệp mới tham gia và tiến tới sản xuất thương mại. Việc liệu có thể bước vào giai đoạn thương mại hóa hay không dự kiến phải đến tháng 3/2028 mới có thể đưa ra kết luận. Tuy nhiên, để giải quyết triệt để vấn đề “nút thắt cổ chai” về đất hiếm, chính phủ Nhật Bản đã chuẩn bị sẵn tâm thế kiên trì với dự án này ngay cả khi không đạt được tính khả thi thương mại, bởi nếu không nước này sẽ luôn ở vào thế bị động về mặt chiến lược.

Việc Nhật Bản “vung tiền không tiếc tay” để xây dựng hệ thống khai thác và sản xuất đất hiếm của riêng mình là việc của họ. Nhưng câu hỏi đặt ra là, Nhật Bản hiện có đủ tiềm lực tài chính như vậy không? Ai cũng biết rằng, trong cuộc bầu cử Hạ viện vừa qua, để lấy lòng cử tri, nhiều đảng phái cả cầm quyền lẫn đối lập đều đồng loạt đề xuất khẩu hiệu bãi bỏ thuế tiêu dùng đối với thực phẩm. Nếu thực hiện điều này, ngân sách của Nhật Bản sẽ hụt thu khoảng 5.000 tỷ Yên tiền thuế mỗi năm. Vậy nguồn bù đắp sẽ đến từ đâu? Do thâm hụt ngân sách kéo dài, Nhật Bản đã buộc phải áp dụng thuế tiêu dùng từ năm 1989 và sau ba lần nâng thuế suất mới đạt mức 10% như hiện nay. Giờ đây, các đảng lại đang thi nhau đòi bãi bỏ thuế tiêu dùng thực phẩm, còn lỗ hổng ngân sách phát sinh thì chẳng ai buồn bận tâm.

Ngoài ra, để loại bỏ các tạp chất có trong bùn, quá trình luyện kim còn cần sử dụng một lượng lớn axit sulfuric và axit hydrochloric – điều mà có khả năng gây ô nhiễm môi trường xung quanh nhà máy. Vì vậy, Nhật Bản buộc phải tăng đầu tư cho bảo vệ môi trường, đây cũng là một khoản chi phí không nhỏ.

Do đó, ngay từ tháng 9 năm ngoái, Tatsuo Yasunaga – Chủ tịch Tập đoàn Mitsui & Co., và là một nhân vật kỳ cựu trong ngành – đã sớm “dội một gáo nước lạnh” vào triển vọng khai thác thử nghiệm đất hiếm. Theo ông, sẽ mất đến hàng thập kỷ để xây dựng năng lực sản xuất đất hiếm, và cho đến nay chưa có quốc gia nào thành công ngoại trừ Trung Quốc. Hoạt động khai thác thử nghiệm lần này của Nhật Bản chỉ là bước khởi đầu trong một chặng đường dài, và khoảng cách tới thành công thực sự vẫn còn quá xa. Vì vậy, truyền thông Nhật Bản đều nhất trí cho rằng, việc bà Sanae Takaichi vội vàng tuyên bố “không còn phải khốn đốn vì đất hiếm” hoàn toàn là một sự “ngộ nhận”, và nỗi lo đất hiếm của Nhật Bản sẽ không vì thế mà được xoa dịu chút nào.

Thử nghiệm khai thác lần này sử dụng hệ thống khai thác bùn đất hiếm dạng tuần hoàn khép kín, được phát triển từ hệ thống tuần hoàn bùn nước dùng trong khai thác dầu khí ngoài khơi, kết hợp với công nghệ độc quyền. Nhóm nghiên cứu đã nối từng đoạn ống hút bùn và thiết bị liên quan từ tàu Chikyū xuống đáy biển sâu gần 6.000 m để kiểm chứng các thao tác đưa máy khai thác vào lòng biển.

Tàu Chikyū được hạ thủy năm 2005 và sau nhiều cuộc thử nghiệm trên biển, đã được bàn giao cho JAMSTEC vào năm 2025 để tiến hành các nghiên cứu khoa học biển liên quan. Con tàu có lượng giãn nước 57.000 tấn, dài 210 m, rộng 38 m, cao 16,2 m, mớn nước 9,2 m, công suất 50.220 mã lực, tốc độ 12 hải lý/giờ với thủy thủ đoàn 150 người (sức chứa tối đa 200 người). Đây rõ ràng là một tàu khảo sát khoa học chứ không phải tàu công trình chuyên dụng, và việc liệu nó có thể chịu được các hoạt động hút bùn liên tục hay không vẫn là một ẩn số lớn. Hiện tại, Nhật Bản hoàn toàn không có đủ kinh phí và kỹ thuật để thiết kế và đóng một con tàu hút bùn chuyên dụng phục vụ cho “dự án quốc gia” chưa từng có này. Trong khi đó, Trung Quốc từ lâu đã có thể sản xuất các thiết bị kỹ thuật biển chuyên biệt cho từng dự án, ví dụ như tàu lắp đặt ống chìm chuyên dụng cho cầu Hồng Kông – Chu Hải – Ma Cao. Như người ta vẫn nói, “muốn làm tốt việc thì trước hết phải có công cụ sắc bén mới được”.

Cho đến nay, dù nhân loại đã tiến hành thăm dò đáy biển trên diện rộng, nhưng vẫn chưa thực sự hiện thực hóa được việc khai thác kim loại thương mại quy mô lớn từ đáy biển. Các chuyên gia chỉ ra rằng, việc khai thác thương mại bùn đất hiếm dưới đáy biển đối mặt với thách thức kỹ thuật cực lớn, hiệu quả kinh tế thấp và rất khó hình thành nguồn cung quy mô lớn trong vài năm tới.

Phương pháp khai thác thử nghiệm mà JAMSTEC hiện đang sử dụng có thể không gây ra vấn đề đáng kể trong ngắn hạn, nhưng trong quá trình công nghiệp hóa và vận hành lâu dài sau này, các thiết bị phải chịu áp suất nước cực lớn và môi trường ăn mòn cao, vì vậy yêu cầu về độ ổn định liên tục của máy khai thác và ống hút là cực kỳ khắt khe. Hơn nữa, mức tiêu thụ năng lượng của các thiết bị liên quan có thể không tương xứng với giá trị của tài nguyên khai thác được.

Thành phần bùn đất hiếm vùng biển gần đảo Minami Tori-shima rất phức tạp, trong khi công nghệ phân tách đất hiếm hiện tại của Nhật Bản vẫn có khoảng cách đáng kể so với trình độ tiên tiến quốc tế. Xét về sản lượng, chi phí hay chất lượng, trong một thời gian dài nữa đều khó có thể đáp ứng nhu cầu trong nước.

Về chi phí, theo ước tính ban đầu của Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản, trong điều kiện chưa hình thành sản xuất quy mô lớn, riêng chi phí khai thác đất hiếm biển sâu đã có thể lên tới 50-100 USD/kg, thậm chí vượt quá 150 USD/kg. Điều này tương đương với 100.000 USD/tấn, và với 10.000 tấn thì con số sẽ lên tới 1 tỷ USD. Với mức tiêu thụ vượt xa 10.000 tấn, liệu ngân sách Nhật Bản có đủ khả năng chi trả cho những chi phí này? Ngoài ra, chi phí vận hành tàu Chikyū lên tới 10 tỷ Yên (khoảng 64 triệu USD) mỗi năm, điều này sẽ đẩy chi phí tổng thể lên cao hơn nữa.

Tác động của việc khai thác đất hiếm biển sâu đối với hệ sinh thái biển sâu hiện vẫn chưa rõ ràng, nó có thể gây ra sự xáo trộn không thể đảo ngược đối với quần thể sinh vật tầng đáy và hệ sinh thái biển sâu. Mặc dù mức độ phóng xạ của bùn đất hiếm dưới đáy biển nhìn chung thấp hơn so với các mỏ trên đất liền, nhưng rủi ro không phải bằng không, và tác động của việc xới tung đáy biển ở quy mô lớn đối với nguồn lợi thủy sản và sinh thái biển không thể bị bỏ qua.

Theo trang web của Đài Phát thanh Truyền hình Australia (ABC), nhiều tổ chức môi trường và các quốc gia thuộc khu vực Thái Bình Dương đã chỉ ra rằng, khai thác mỏ dưới đáy biển có thể phá hủy môi trường sinh sống của sinh vật biển, gây ô nhiễm chuỗi thức ăn, thậm chí tạo ra các đám mây trầm tích lan rộng trên quy mô lớn. Họ bày tỏ sự quan ngại sâu sắc trước những nguy cơ này.

Một số chuyên gia cũng cho rằng, cần đặc biệt chú ý tới tác động môi trường trong quá trình tinh luyện bùn đất hiếm. Giáo sư Toru Okabe thuộc Đại học Tokyo chia sẻ với truyền thông Nhật Bản rằng, vấn đề xử lý lượng lớn chất thải phát sinh trong quá trình tinh chế bùn đất hiếm hiện vẫn chưa có lời giải.

Các chuyên gia nhận định, hoạt động khai thác đất hiếm tại đảo Minami Tori-shima hiện nay mới chỉ là một dự án trình diễn công nghệ, chứ chưa phải là một dự án công nghiệp có triển vọng thương mại rõ ràng. Ngay cả khi có những nỗ lực thương mại hóa ở quy mô hạn chế trong tương lai, dự án này sẽ phụ thuộc rất nhiều vào trợ cấp tài chính của nhà nước và khó có thể đạt được khai thác bền vững thông qua cạnh tranh thị trường. Theo ông James Tekune – trợ lý nghiên cứu tại công ty tư vấn Adamas Intelligence (Hà Lan) – trong kịch bản lạc quan nhất, khai thác đất hiếm biển sâu “chỉ có thể trở thành một kênh cung ứng quy mô nhỏ”.

Trên thực tế, trước đây Nhật Bản cũng từng trải qua cơn sốt tương tự trong dự án khai thác băng cháy, nhưng kết quả cuối cùng lại là “công cốc”.

Vào đầu thế kỷ này, Nhật Bản lần lượt phát hiện các mỏ băng cháy ở vùng biển gần tỉnh Niigata, sau đó là những mỏ có quy mô lớn hơn nhiều tại các vùng biển quanh quần đảo Izu và Ogasawara, rồi tiếp tục phát hiện các mỏ thủy nhiệt dưới đáy biển tại nhiều nơi khác. Không chỉ phân bố rộng rãi, mức độ tập trung khoáng sản của các mỏ này cũng khiến người ta vô cùng phấn khích. Riêng mỏ thủy nhiệt ở độ sâu khoảng 1.600 mét dưới đáy biển tại khu vực Tây Bắc tỉnh Okinawa đã có trữ lượng gần 5 triệu tấn, trong đó bao gồm các kim loại như đồng, kẽm, vàng, bạc và chì. Đến mức mà trong chiến lược phát triển 10 năm của tỉnh Okinawa năm 2012, các mỏ thủy nhiệt này được xác định là có tiềm năng “thúc đẩy sự phục hưng của các ngành công nghiệp liên quan”.

Tháng 3/2013, sau hai năm chuẩn bị, Cơ quan Tài nguyên Dầu khí và Kim loại Nhật Bản thuộc Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp lần đầu tiên thu thập được mẫu băng cháy tại vùng biển gần tỉnh Aichi. Khi mẫu thử được châm lửa ngay trên tàu, Bộ trưởng Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp lúc đó – người có mặt thị sát – đã không giấu nổi niềm vui sướng: “Vượt quá mong đợi, hoàn toàn vượt quá mong đợi!” Cảnh tượng này còn được truyền hình trực tiếp trên toàn quốc, và thành công bước đầu này đã làm bùng lên kỳ vọng mạnh mẽ của người dân Nhật Bản vào nguồn tài nguyên biển.

Những phát hiện liên tiếp về tài nguyên biển đã mang tới cho Nhật Bản sự phấn khích khó diễn tả thành lời. Năm 2013, Cục Tài nguyên và Năng lượng Nhật Bản bắt đầu tiến hành khảo sát trữ lượng tài nguyên tại Biển Nhật Bản. Đối với các chính quyền địa phương ven biển, điều này chẳng khác nào “của trời cho”, khiến họ hoàn toàn chìm đắm trong bầu không khí hân hoan. Vào năm 2012, 10 tỉnh ven Biển Nhật Bản, bao gồm Niigata và Kyoto, đã thành lập Liên minh Thúc đẩy Phát triển Tài nguyên – Năng lượng Biển Nhật Bản.

Sau thảm họa động đất năm 2011, việc Nhật Bản từ bỏ điện hạt nhân đã dẫn đến nhu cầu nhập khẩu năng lượng tăng vọt. Đúng thời điểm then chốt này, các nguồn tài nguyên biển lại liên tiếp được phát hiện, chẳng khác nào “nắng hạn gặp mưa rào”. Chiến lược tăng trưởng của chính quyền Abe lúc bấy giờ đã đưa khai thác thương mại tài nguyên biển vào danh mục trọng điểm, tạo thêm động lực mạnh mẽ cho doanh nghiệp và chính quyền địa phương. Dường như viễn cảnh về một “cường quốc tài nguyên biển” mới đã ở ngay trước mắt.

Thế nhưng tiếc thay, niềm vui ấy chỉ tồn tại ngắn ngủi, giống như một tia lửa lóe sáng rồi nhanh chóng vụt tắt.

Hoạt động khai thác thử nghiệm, ban đầu dự kiến ​​kéo dài hai tuần tại vùng biển gần tỉnh Aichi, đã phải chấm dứt sớm chỉ sau sáu ngày vì các thiết bị khai thác bị tắc nghẽn bởi bùn cát. Trong mắt các chuyên gia, đây là điều hoàn toàn có thể đoán trước, và cuộc thử nghiệm này rõ ràng là một hành động liều lĩnh. Để phục vụ cho cuộc thử nghiệm, Nhật Bản đã đầu tư tới 10 tỷ Yên – một khoản “học phí” thực sự quá đắt đỏ.

Ban đầu, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản còn dự định tiến hành đợt khai thác thử băng cháy lần thứ hai, nhưng do không giải quyết được hàng loạt vấn đề kỹ thuật, kế hoạch này đã bị hoãn vô thời hạn và dần rơi vào quên lãng. Cơn sốt băng cháy, sau một giai đoạn ngắn ngủi bùng lên dữ dội, đã nhanh chóng bị “xếp xó”. Liệu cơn sốt đất hiếm hiện nay có tránh được “vết xe đổ” này? Có vẻ như đây là điều rất khó tránh khỏi.

Là một quốc gia luôn phải đối mặt với tình trạng khan hiếm tài nguyên, dường như Nhật Bản thỉnh thoảng lại tự xây cho mình những “lâu đài trên cát” có phần hư ảo và xa rời thực tế, và e rằng điều này sẽ còn tiếp diễn trong tương lai.

Related posts