Trung Quốc là tấm gương, có thể soi để thấy được nhiều điều!

Phan Thế Hải

27-1-2026

Ông giáo bảo: Việt Nam vừa kết thúc ĐH 14, thành công tốt đẹp chú à. Nhìn vào các nhân sự mới, thấy phấn khởi. Tể tướng mới thuộc thế hệ 7x, được đào tạo bài bản, nền kinh tế đã lên đường ray và băng băng về phía trước. Nhìn sang Trung Quốc, thấy đấu đá nội bộ vẫn không dứt khó tiến xa. Tôi nói vậy phải không chú!?

Rằng bác nói có phần đúng, có phần chưa. Xét về mặt ý thức hệ, Việt Nam là “phiên bản” sáng tạo của Trung Quốc. Nhưng cũng vì thế mà Việt Nam dễ lặp lại những sai lầm của đàn anh. Sau mấy chục năm tăng trường với tốc độ cao, nay nền kinh tế Trung Quốc đang mắc kẹt trong nhiều bế tắc mang tính cấu trúc, rất khó xử lý trong khuôn khổ mô hình chính trị – kinh tế hiện tại. Những động cơ tăng trưởng cũ nay đã cạn mà không tìm được động cơ thay thế đủ mạnh.

Trung Quốc trong nhiệm kỳ 3 của Tập đã vướng phải căn bệnh của cơn nghiện ấy là tập trung quyền lực quá mức làm suy giảm cơ chế tự điều chỉnh. Đặc trưng thời Tập là quyền lực cá nhân hóa cao độ. Tập giữ đồng thời Tổng bí thư – Chủ tịch nước – Chủ tịch Quân ủy. Đây là sự khác biệt so với thời Đặng. Việc thanh trừng hai nhân vật quan trọng ở Quân ủy Trung ương đã bộc lộ những lỗ hổng trên chính trường Trung Quốc.

Trung Quốc cũng xóa bỏ giới hạn nhiệm kỳ (2018) khiến các quyết sách phụ thuộc mạnh vào ý chí cá nhân, thiếu phản biện nội bộ. Quan chức cấp dưới sợ trách nhiệm, “chờ chỉ đạo” thay vì chủ động. Khi sai lầm xảy ra, chẳng hạn siết thị trường bất động sản, khó sửa nhanh, vì sửa sai đồng nghĩa thừa nhận sai lầm của trung tâm quyền lực. Mô hình này hiệu quả khi lãnh đạo đúng, nhưng rủi ro rất cao khi lãnh đạo sai.

Trung Quốc cũng đang đảng hóa nhà nước và xã hội khiến hiệu suất quản trị giảm. Thời Tập, đảng can thiệp sâu vào chính quyền, doanh nghiệp, trường đại học, công nghệ, truyền thông. Các “ủy ban lãnh đạo trung ương” của đảng lấn át cơ chế hành chính chuyên nghiệp. Hệ quả là quyết định mang tính chính trị – ý thức hệ nhiều hơn là kỹ trị. Doanh nghiệp tư nhân mất động lực đầu tư dài hạn vì sợ rủi ro chính sách. Sáng tạo và phản biện xã hội bị bóp nghẹt. Quản trị hiệu quả cần phân vai rõ ràng, đâu là đường lối vĩ mô, đâu là trách nhiệm của bộ máy hành chính. thời Tập, ranh giới này bị xóa mờ.

Cùng với đó, chống tham nhũng mạnh nhưng gây “đóng băng hành chính”. Chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” đã làm sạch quyền lực ở mức độ nhất định. Qua đó củng cố uy tín cá nhân của Tập. Nhưng hạn chế là quan chức không dám quyết, sợ sai quy trình sẽ bị quy chụp. Nảy sinh “tham nhũng thụ động”, không làm gì cho khỏi sai. Doanh nghiệp cứ triển khai, thất bại thì khỏi quay lại còn thành công thì có chút “quà mọn” cám ơn. Trung Quốc chưa xây dựng được cơ chế kiểm soát quyền lực độc lập, thay vào đó là kỷ luật nội bộ Đảng. Chống tham nhũng không đi kèm cải cách thể chế thì hiệu quả không bền.

Chính sách kinh tế mang tính hành chính, chiến dịch. Chẳng hạn, siết bất động sản đột ngột gây khủng hoảng nợ địa phương. Đánh mạnh Big Tech (Ant, Didi…) khiến doanh nghiệp mất niềm tin thị trường. “Thịnh vượng chung” chỉ là thông điệp mơ hồ, gây tâm lý lo ngại. Vấn đề cốt lõi là chính sách thay đổi nhanh, khó dự đoán. Trung Quốc ưu tiên “an ninh – kiểm soát” hơn “hiệu quả – thị trường”. Mô hình này không thân thiện với kinh tế đổi mới.

Về mặt chính trị, Trung Quốc kiểm soát tư tưởng và thông tin khiến quyết sách kém chất lượng. Dưới thời Tập, truyền thông bị kiểm soát chặt. Đội ngũ học giả, chuyên gia dẫu đông đảo nhưng ít dám nói thẳng. Thông tin xấu thường bị “lọc” trước khi lên trung ương. Hệ quả là lãnh đạo dễ rơi vào bong bóng thông tin. Trung Quốc phản ứng chậm trước khủng hoảng (COVID đầu năm 2020, khủng hoảng địa ốc). Quản trị hiện đại cần dòng thông tin trung thực, không chỉ trung thành.

Trung Quốc theo đuổi chính sách đối ngoại mang tính đối đầu khiến môi trường phát triển xấu đi. Chính sách ngoại giao chiến lang gây căng thẳng với Mỹ, EU, Nhật, Ấn, ASEAN khiến Trung Quốc bị tách dần khỏi chuỗi cung ứng công nghệ cao. Hệ quả quản trị là kinh tế Trung Quốc phải gánh rủi ro địa chính trị. Tài nguyên quốc gia dồn cho an ninh – quân sự thay vì phúc lợi, cải cách.

Tập đề ra mục tiêu rất lớn, “Phục hưng dân tộc Trung Hoa”, đến năm 2049 trở thành siêu cường toàn diện. Nhưng dân số già hóa nhanh, nợ công ẩn cao, giới trẻ bi quan “nằm thẳng”. Khát vọng chiến lược lớn nhưng nền tảng xã hội suy yếu.

Hạn chế lớn nhất trong quản trị thời Tập Cận Bình không nằm ở năng lực cá nhân, mà ở mô hình quyền lực quá tập trung, thiếu cơ chế tự sửa sai. Việt Nam đi sau, có thể nhìn vào Trung Quốc để có thể phát hiện thấy hình bóng của mình trong đó. Nếu đủ tỉnh táo sẽ không lặp lại những sai lầm của người đi trước. Chúng ta đang đứng giữa áp lực ổn định chính trị và đòi hỏi phát triển chất lượng cao. Rút bài học từ thời Tập Cận Bình không phải để so sánh chế độ, mà để tránh những cái giá mà Trung Quốc đang phải trả.

Giữ kỷ luật quyền lực là tốt, đặc biệt là chống tham nhũng phải có răng. Chống tham nhũng quy mô lớn, liên tục, không vùng cấm khiến tham nhũng không có chỗ để ẩn náu. Kỷ luật Đảng phải mạnh mới củng cố niềm tin xã hội giai đoạn đầu.

Tuy nhiên cần làm rõ ranh giới: Sai phạm – sai lầm – rủi ro chính sách. Điểm mấu chốt là chống tham nhũng phải song hành với bảo vệ người dám làm. Việt Nam nên ổn định chính trị nhưng không đồng nghĩa với im lặng chính sách. Cần phải tránh “đảng hóa” cực đoan đời sống kinh tế -xã hội. Cùng với đó là tôn trọng không gian tự chủ của doanh nghiệp, trường đại học, trong đó có tầng lớp tri thức họ có thể bày tỏ chính kiến của mình một cách có chất lượng học thuật mà không bị trù dập…

Sơ sơ vậy thôi bác nhé, chủ đề này còn rất nhiều thứ khó nói hết!

Nguồn: Tiếng Dân

Related posts