Venezuela và vấn đề của “học thuyết Donroe”

Nguồn: Gideon Rachman, “Venezuela and the trouble with the Donroe doctrine,” Financial Times, 05/01/2026

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Một trật tự thế giới được xây dựng xoay quanh vùng ảnh hưởng của các cường quốc là mầm mống cho bất ổn và xung đột.

“Học thuyết Monroe là chuyện lớn, nhưng chúng ta đã điều chỉnh nó nhiều rồi, rất nhiều. Bây giờ, người ta ọi nó là ‘Học thuyết Donroe’”. Donald Trump đã nói như vậy chỉ vài giờ sau khi quân đội Mỹ lật đổ Nicolás Maduro ở Venezuela.

Chiến dịch tại Venezuela là minh chứng rõ ràng cho quyết tâm của chính quyền Trump trong việc thiết lập bá quyền Mỹ ở Tây bán cầu. Ý tưởng đó là trọng tâm trong chiến lược an ninh quốc gia Mỹ vừa được công bố tháng trước. Sự vui mừng lộ rõ của Tổng thống Mỹ trước thành công bước đầu của chiến dịch Venezuela cho thấy ông có thể sẽ nảy sinh hứng thú can thiệp vào cái gọi là “sân sau” đang được định nghĩa ngày càng rộng của nước Mỹ.

Tuy nhiên, những hệ quả của việc thay đổi chế độ tại Venezuela thực sự mang tính toàn cầu. Việc tuyên bố Học thuyết Donroe – kết hợp với những động thái xích lại gần Nga và Trung Quốc của Trump – cho thấy ông bị thu hút bởi một trật tự thế giới được tổ chức xoay quanh các vùng ảnh hưởng của các nước lớn.

Cả Nga và Trung Quốc đều lên án việc lật đổ Maduro. Nhưng Tập Cận Bình sẽ vui vẻ hy sinh ảnh hưởng của Trung Quốc tại Venezuela nếu điều đó đồng nghĩa với việc Bắc Kinh được toàn quyền hành động đối với Đài Loan. Nga chắc chắn cũng sẽ thực hiện thỏa thuận tương tự đối với Ukraine. Năm 2019, Fiona Hill, người từng phục vụ trong chính quyền Trump nhiệm kỳ đầu, nói với Quốc hội rằng chính phủ Nga đã “phát tín hiệu rất mạnh mẽ, rằng họ muốn bằng cách nào đó thực hiện một thỏa thuận trao đổi kỳ lạ giữa Venezuela và Ukraine.”

Vào lúc này, sự chú ý vẫn đổ dồn vào việc liệu Mỹ có thể “điều hành” Venezuela hay không và bằng cách nào – như lời Trump đã hứa. Vì lợi ích của việc thiết lập sự ổn định – và nhanh chóng tiếp cận trữ lượng dầu mỏ khổng lồ của nước này – chính quyền Trump đang ra dấu rõ ràng rằng họ định thỏa thuận với những tàn dư của chế độ Maduro, thay vì ủng hộ phe đối lập dân chủ đang lưu vong.

Thành công hay thất bại của chiến lược đó có thể quyết định mức độ tham vọng của Mỹ trong việc thể hiện quyền lực ở phần còn lại của Tây bán cầu. Một danh sách mục tiêu tiềm năng đã bắt đầu lộ diện. Trong những bình luận đưa ra sau khi bắt giữ Maduro, Trump cũng có vài lời cảnh báo bóng gió nhắm đến Colombia và Mexico. Ông nói Tổng thống Colombia, Gustavo Petro, đang “sản xuất cocaine… Vì vậy ông ta phải cẩn thận đấy.” Ông khen ngợi Claudia Sheinbaum, Tổng thống Mexico, nhưng nói rằng các băng đảng ma túy đang “điều hành Mexico.” Từ lâu đã có tranh luận trong nhóm những người ủng hộ Trump về việc liệu Mỹ có nên sử dụng vũ lực chống lại các băng đảng Mexico ngay trong lãnh thổ Mexico hay không. Cho đến nay, sự thận trọng vẫn chiếm ưu thế. Nhưng cảm giác phấn khích khi lật đổ Maduro có thể thay đổi toan tính của Trump.

Chế độ Cộng sản tại Cuba – từng là mục tiêu của nhiều nỗ lực thay đổi chế độ thất bại của Mỹ suốt thập niên 1960 – cũng đã trở lại trong tầm ngắm của Washington. Marco Rubio, Ngoại trưởng Mỹ, người có cha mẹ rời Cuba để đến Mỹ, đã cảnh báo Havana, khẳng định rằng chính phủ Cuba là một “vấn đề lớn” và nói thêm một cách đầy đe dọa – “Tôi nghĩ họ đang gặp rắc rối lớn… Tôi sẽ không nói cho các bạn biết các bước đi tiếp theo của chúng tôi là gì.” Sự sụp đổ của Maduro chắc chắn sẽ gây khó khăn cho Cuba, những người vốn dựa vào dầu mỏ và trợ cấp từ Venezuela.

Và kế đó là Greenland. Trump vừa nhấn mạnh lại mong muốn tiếp quản hòn đảo này – vốn là một vùng đất tự trị thuộc Đan Mạch. Ngay sau chiến dịch Venezuela, Katie Miller, vợ của Stephen Miller, phó chánh văn phòng của Trump, đã đăng một tấm bản đồ Greenland được phủ cờ Mỹ – đính kèm chữ “SỚM THÔI” bên trên.

Việc sáp nhập một phần lãnh thổ của đồng minh NATO sẽ là một bước đi cực đoan hơn nhiều so với việc lật đổ một nhà lãnh đạo độc tài Mỹ Latinh. Nhưng chính quyền Trump đã chuẩn bị dư luận cho động thái nhắm vào Greenland từ lâu – cáo buộc rằng người Đan Mạch đã thất bại ở đó. Xét đến thái độ coi thường công khai của chính quyền Mỹ hiện tại đối với các đồng minh châu Âu, một nỗ lực sáp nhập từ phía Mỹ là điều không thể loại trừ.

Tất cả những điều này sẽ được Bắc Kinh và Moscow theo dõi với sự thích thú. Một thế giới nơi các quốc gia hùng mạnh và các nhà lãnh đạo cứng rắn có thể làm bất cứ điều gì họ muốn đối với các nước láng giềng sát sườn sẽ rất phù hợp với Nga và Trung Quốc. Bản thân Trump có thể tin rằng việc phân chia thế giới thành các vùng ảnh hưởng không chính thức có thể là con đường dẫn đến “sự ổn định chiến lược” với Nga và Trung Quốc, điều mà chiến lược an ninh quốc gia gần đây của Mỹ đã đặt lên làm ưu tiên.

Ý tưởng rằng vùng ảnh hưởng của các cường quốc tạo ra sự ổn định nghe có vẻ hợp lý về mặt hình thức. Nhưng nó phớt lờ quan điểm và lợi ích của các nước nhỏ hơn, những nước bị xem là quá nhỏ bé để tự quyết định vận mệnh của mình. Nhưng những quốc gia đó vẫn có quyền tự quyết – và đôi khi có thể đứng lên chiến đấu, như Ukraine đã chứng minh.

Ngay cả khi chỉ xét đến lợi ích của cái gọi là “các cường quốc,” các vùng ảnh hưởng cũng dễ gây ra căng thẳng hơn là sự ổn định. Đó là bởi vì một quốc gia như Mỹ sẽ tiếp tục có các lợi ích toàn cầu. Ví dụ, Trung Quốc xem Đài Loan là một phần lãnh thổ và là lợi ích quốc gia “cốt lõi.” Nhưng Mỹ tin rằng an ninh quốc gia của chính họ sẽ bị đe dọa nếu ngành công nghiệp bán dẫn của Đài Loan rơi vào tay Trung Quốc – hoặc nếu Bắc Kinh kiểm soát tuyến vận tải biển đi qua Biển Đông.

Đơn giản thì, đánh đổi sự thống trị của Mỹ ở Tây bán cầu lấy sự thống trị của Trung Quốc ở Đông Á sẽ là thương vụ thế kỷ… đối với Trung Quốc.

Related posts